Tuesday, November 15, 2011

suy nghĩ về Bài viết của Ô Phan Thiết Phạm Kim Khánh


LTS- Đến giờ phút này lịch sử đã phơi bày về sự liên kết giữa thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thícch Giác Đức, Thích Chánh lạc, Hộ Giác  v...v và nhiều nữa đã liên kết với bọn VGCS để giật xập tất cả những chính thể của Miền Nam VN.  Những tên luu manh đội lớp sư tăng giết người không sám hối, không bồi thường nhân mạng, tài sản, tất cả những mất mát của nhân dân Miền Nam, của các gia đình phật tử đã bị thảm hại dưới bàn tay của bọn chúng. Hàng chục ngàn nạn nhân Huế từ mấy chục năm qua vẫn chưa được phục hồi danh dự, tài sản. Có những nguời xác vẫn chưa tìm ra? Người chết vẫn chưa được yên mồ, yên mả. Còn bọn giết người giả sư tăng và đồng bọn vẫn dùng truyền thông ngày đêm ra rả tuyên truyền xám kết tội Miền Nam VNCH , kết tội Tổng Thống Ngô Đình Diệm  và che đậy tội ác của chúng như đại đức Dưong Hiếu Nghĩa đã giết TT Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963?  Dương Hiếu Nghĩa khoe với Trại truởng nhà tù cải tạo Trần Nhu là : Thưa Ban, chính tôi đã giết anh em "thằng" Diệm Nhu.
Trần Nhu hỏi: Mày là Ai?
Dương Hiếu Nghĩa khúm núm trả lời: dạ thưa ban, tôi là Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa.
Trần Nhu quát : Mày mà là đại tá, thì tao là đại tướng. Đi Đi.
(Lời thuật của Nhà Báo Việt Thường bị giam trong trại tù CS)

Thế thì Võ Văn Ái, Quảng Độ, Chánh lạc, Giác Đức, Hộ Giác, Nhất Hạnh, ngậm ngải hay sao không dám nói lên sự thật đó mà vẫn oang oang là Diệm mà không Diệm, Cần lao đấy. ??? Chúng giết người, vu khống, chà đạp lên sự thật, bôi nhọ nhân phẩm con nguời. Tại sao những người phật tử hiền lành ngây thơ vẫn phải quì gối, đê đầu đảnh lễ van xin nộp tiền cho chúng xây chùa đồ sộ, tậu thu hàng trăm, hàng ngàn mẫu đất?  ra tiền, ra công xây dựng Tam bảo Điền , Tam bảo nô cho cái gọi là GHPGVNTN, Văn phòng 1, 2 VHĐ ??  chúng xây hết cơ sở này đến phòng ốc kia thật là đồ sộ. Vào chùa thì thấy vài tượng Phật để trong chùa, còn hầu hết là chúng đem tượng Phật ra phơi sưong phơi nắng ngoài sân. Chúng hô hào chùa phài cho to, tượng cho cao, chuông cho lớn, tháp nhiều tằng chót vót, sân cho rộng, phòng thật nhiều, lát gạch bông, tuợng lát vàng, cẩn ngọc, Nhang đèn, hoa tuơi, trái cây tươi, chè mới nấu, thức ăn ngon bổ hảo hạng ..v...v.. Có tên nào sống đúng như phong thái của người tu hành là chỉ ăn 1 buổi Chánh Ngọ, ăn đạm bạc tương chao không?có tên nào vào am đóng cửa tịnh khẩu thiền đốn ngộ 3-6 tháng một năm không?. Chúng xem mình là vua, ngày đêm có các gia nô ra vào hầu hạ lo từ cái quần đến cái áo, cái khăn tắm, đến cái quần xì líp. Thế mà còn bị chúng chửi. Cuộc sống trong cỏi đời này,trong gia đình con cái trong nhà làm biếng, em út trong nhà làm biếng là bị quở trách, nhân viên làm biếng thì bị đuổi việc, còn bọn giả sư tăng làm biếng đưa cơm đưa đến miệng.. chúng cũng không vừa bụng. Chúng tổ chức đủ thứ lễ lộc, khóa tu học v..v  để móc túi phật tử, không cúng thì bái, không bái thì bói, xin xâm xem quẻ.... Đến chùa mục đích lạy phật, nhưng bên cạnh Phật là 2 thùng phước sương to đùng, hoá chăng phật tử lạy 2 thùng phước sương, vừa lạy thùng tiền vừa lâm râm niệm Phật, dâng tiền cúng dường cho chúng xài thfi mới yên tâm là Phật lắng nghe tâm nguyện mình. Có ai đưa tiền cho kẻ xin ăn mà quỳ xuống chổng mông lạy không? có ai ra chợ mua đồ khi trả tiền là quỳ xuống chổng mông lạy không? Thế mà khi đến chùa tưởng mình lạy phật, thật ra là lạy thùng tiền. Nếu không tin thì xem lại đoạn phim của cảnh chùa các Phật tử phải đê đầu đảnh lễ, dâng vợ , dâng con cho chúng hưởng và chịu những lời chúng xỉ vả, hay lời chửi mắng của bọn đệ tử lưu manh của chúng???
Đã đến lúc chúng ta thức tỉnh là người tu chân chính thì ít, bọn lưu manh giả tu gõ mõ gó chuông làm trò thì nhiều. nhất là bọn lưu manh giết người giả sư tăng. Cái tội lớn của bọn chúng là Việt Gian, đánh phá Miền Nam VNCH. Được xếp vào hạng Tội dồ của dân tộc. Nếu trời không tru diệt chúng, thì chúng ta, con cháu chúng ta, con cháu nạn nhân Mậu thân Huế nguyện sẽ đem công bằng, công lý cho hàng chục ngàn nạn nhân. và thề nguyền sẽ giúp cho chúng sớm về cỏi ngục A Tỳ để chúng ôn lại bài học của Mục Kiền Liên.

 Dựa theo bài viết dưới đây của ông Phan Thiết Phạm Kim Khánh:
Trước nền Đệ I Cộng Hoà, Phật Giáo Miền Nam VN có 2206 ngôi chùa, trong thời Đệ I Cộng Hoà , tính đến ngày 01-11-1963 có thêm 2560 ngôi chùa mới được xây cất, và do chính quyền Ngô Đình Diệm đài thọ. Vì Chúng được tự do ăn ngủ trong 2560 ngôi chùa mới , chúng tụ 5 , tụ 10 , đem súng đạn, đem bọn Việt Gian nằm vùng Nguyễn Hữu Thọ, Mai Chí Thọ , Võ Văm Kiệt vào chùa ẩn nấp. Chúng thấm thiết với nhau như hình Mai Chí Thọ và Quảng Độ rậm râu tâm đắt ngồi với nhau.  Chúng  được hưởng tự do , được nuôi dưởng bằng lúa gạo mồ hôi nước mắt của nhân dân Miền Nam VNCH để chửi bới những người có công đưa tiền cho chúng xây chùa. Quí vị có thể tìm hiểu nhũng tài liệu này chính trong lịch sử Phật giáo ghi chép.
Bọn sư tăng Hộ Giác( kẻ chống VNCH) và Giác Đẳng miệng Nam Mô A Di Đà, xúi phật tử đưa tiền cho chúng bỏ vào trương mục cá nhân 200,000 quan thuỵ sĩ, tài liệu chúng cớ, chữ ký của chúng còn đó, rồi chúng trân tráo quỵt nợ. Lòng chúng như rắn độc,  mồm thối nói láo đó có tư cách gì để giảng Phật Pháp?
Cho nên, chuyện chúng tụng kinh gõ mõ, giảng Phật pháp chỉ là trò lừa bịp. Dù trẻ con cũng hiểu là không Phật nào Chứng Đạo cho bọn cướp của, giết người, hiếp dâm phụ nữ trẻ em, cạo đầu giả sư.
Đây là bài viết của ông Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh.


Tác giả Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh nguyên là cựu Thẩm phán tại tòa án tỉnh Phan Thiết trước 1975. Ông tên thật là Nguyễn Kim Khánh, vì có thời gian làm việc tại Phan Thiết, ông đã lấy Phan Thiết làm bút hiệu.
Đệ Nhất Cộng Hòa có "kỳ thị Phật giáo" không?
Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh
Giáo lý nhà Phật rao giảng thập nhị nhân duyên, để đi đến kết luận triệt để là bài trừ sắc tướng. Đạo Phật cũng như Đạo Thiên Chúa cao khiết mênh mông, bao trùm toàn thể nhân loại, là gia sản chung của toàn thể loài người, không thể đóng khuôn đạo giáo trong một văn bản của một quốc gia. Các nhà lãnh đạo của đạo Phật đã mắc vào vòng sắc tướng và họ đã chịu hậu quả như thế này: Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa ngày 30.4.1975, chúng tuyên bố hủy bỏ tất cả luật lệ của Việt Nam Cộng Hòa. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập do sắc lệnh 158/SL/CP, ngày14.5.1964. Sắc lệnh ấy, cũng cũng chịu chung số phận với mọi văn bản lập pháp, lập quy của Việt Nam Cộng Hòa.
Kỳ thị Phật giáo trong chính sách và xã hội:
Trước kia, Phật giáo Thống nhất đã đòi:  Một trong năm nguyện vọng của Phật giáo đồ" là yêu cầu chế độ Ngô Đình Diệm để cho tăng ni được tự do truyền đạo và hành đạo. Có lẽ trong trí các vị này nghĩ rằng Phật giáo bị kỳ thị nên tăng ni không được tự do hành đạo và tự do truyền đạo. Nhưng họ lại không đưa ra được bằng chứng nào cụ thể chứng minh chính quyền Ngô Đình Diệm gây ra những khó khăn hoặc ngăn cản việc truyền đạo hay hành đạo.
Ngược lại người ta có rất nhiều bằng chứng, chứng minh đạo Phật đã phục hưng rất mạnh trong chín năm cầm quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Trước nhất, là số chùa được xây cất. Trong cuốn "Our Vietnam Nightmare" bà  Maguerite Higgins  cho biết: "1275 ngôi chùa được xây cất, 1295 ngôi chùa được trùng tu dưới trào Ngô Đình Diệm". Theo cụ Đoàn Thêm và cụ Mai Thọ Truyền thì trước khi Tổng thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, Nam Việt Nam chỉ có 2206 ngôi chùa, đến năm 1963 số chùa tăng lên thành 4766 ngôi. Nhiều ngôi chùa được quốc gia trợ cấp tiền bạc để xây cất.
Về các sở văn hóa, trước khi Tổng thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, đạo Phật chưa mở trường học. Dưới chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm, hệ thống Trung tiểu học Bồ Đề ra đời. Đỗ Mậu cho biết năm 1970 Phật giáo có 160 trường trung tiểu học trong cả nước. Đa số trường này được xây cất trước ngày 1.11.1963.
Đọc những thành quả trên, liệu người ta có dám kết luận Tổng thống Ngô Đình Diệm và chế độ của ông đã "kỳ thị Phật giáo" không ?
Xét chung trên bình diện chính sách quốc gia cũng như thành quả của đạo Phật trong chín năm cầm quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm, người ta không tìm ra được bằng cớ nào chứng tỏ Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính quyền của ông kỳ thị đạo Phật, kỳ thị giáo hội Phật giáo, kỳ thị tín đồ đạo Phật.
Khi tôi đưa ra một vài vấn đề để viết bảng so sánh dưới đây, tôi không đề cao Công giáo hay miệt thị Phật giáo. Tạm thời tôi chỉ nói về:
Yếu tính đạo giáo
- Đạo Phật không hẳn là một tôn giáo, vì tôn giáo phải có Thần Linh. Đức Phật không phải là Thần Linh. Ngài chỉ là bậc Đại giác, bậc Chánh Đẳng Chánh giác, nói theo chữ Phạn là A-niệu-da-la Tam-niệu Tam bồ đề (Amuttara Samyak Samboddhi). Các đệ tử theo ngài đều là tỳ kheo như nhau, không đẳng cấp. Đã không không hẳn là tôn giáo, thì cũng không hẳn phải có giáo hội mà chỉ có những tu hội quy tụ những người đồng một chí hướng trong một tu viện hay một ngôi chùa.
- Đạo Công giáo rõ ràng là một Tôn giáo vì có Thần Linh Tối Cao là Thiên Chúa và có hàng giáo phẩm thống thuộc từ cao xuống thấp tỏa rộng sinh hoạt trong cộng đồng tín đồ. Chúa Jêsu đã thiết lập giáo hội, đặt ông Phê-rô làm đầu chăn "các chiên mẹ và chiên con". Chúa như cây nho, tín đồ là cành nho. Thánh Phao-lô gọi giáo hội là là "thân thể mầu nhiệm" của Chúa. Giáo hội trở thành keo sơn liên kết người sống và kẻ chết: Giáo hội đang chiến đấu là giáo hội hữu hình, gồm toàn dân Thiên Chúa ở trần gian, giáo hội khải hoàn là toàn thể dân Chúa trên Thiên đàng, giáo hội đau khổ là toàn thể dân Chúa đang chịu thanh luyện sau khi chết, để nhập vào giáo hội khải hoàn.
- Hệ quả: Chữ Giáo Hội trong  đạo Phật là mượn của Đạo Thiên Chúa: Là Ecclesia, Église, Church, theo Thánh Kinh (Mat.16,19), nhưng chỉ mượn được "sắc tướng" thôi, chứ bản chất thì không thể mượn được. Vì thế, tín đồ Công giáo đoàn kết keo sơn thành một cộng đồng rõ nét, và tuân lệnh chủ chiên của mình là hàng giáo phẩm trong vấn đề đức tin. Đời sống giáo hội thông hiệp với tín đồ bằng lời Chúa do giáo sĩ giảng dạy và nuôi dưỡng tinh thần tín đồ bằng các phép Bí tích. Bí tích Thánh thể trung tâm của đời sống Công giáo. Điều này, đạo Phật không thể có được, vì trong đạo Phật ai tu nấy chứng. Trong Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng ai cũng phải tự mình mà đạt tới. Chính đức Phật đã dạy:
"Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành" và "Chúng sanh hãy tự đốt đuốc tìm đường mà đi".
Tuy gọi là "quy y Tam Bảo", nhưng tín đồ đạo Phật hoàn toàn tự do, không lệ thuộc vào ai. Đã không lệ thuộc ai, thì sự giao tế trong một cộng đồng chỉ còn là giao tế xã hội hàng ngang. Kết quả sự tôn kính dành cho kẻ truyền pháp (tương đương với giáo sĩ truyền giáo) giảm. Những cái giảm kia xẩy ra ngay trong cộng đồng đạo Phật tỏa rộng ra toàn xã hội, đưa đến Ngộ Nhận là "kỳ thị Phật giáo".
- Về những người làm việc tôn giáo
- Đạo Phật: Các tu sĩ đồng hạng đều là tỳ kheo, tức là những người sống theo lối tu hành của Đức Phật. Muốn làm tỳ kheo chỉ cần tâm nguyện xuất gia là đủ. Xuất gia rồi, thì giữ giới luật là thành tỳ kheo. Không bắt buộc trình độ văn hóa hoặc là phải tu học bao lâu. Không có các trường chuyên nghiệp bắt buộc đào tạo tỳ kheo theo một học trình mở rộng cả đạo lẫn đời. Thường thì các vị sư cụ (đại lão Hòa thượng, Thượng tọa) thu nhận một số đệ tử rồi tự các ngài huấn luyện lấy, xong cho thụ giới thành tỳ kheo. Bởi đó, trình độ văn hóa tổng quát của các vị tỳ kheo thường yếu  kém, nhiều vị ngay sự hiểu biết về Phật pháp cũng rất lờ mờ, pha trộn tín ngưỡng dân gian, ngoại đạo. Ấy là chưa nói tới một số kẻ lợi dụng nguyên chỉ là thầy cúng của "đạo" dân gian, bỗng chốc mặc áo tỳ kheo nhập hàng tu sĩ của đạo Phật.
- Đạo Công giáo: Người giáo sĩ Thiên Chúa dù là giáo sĩ dòng hay giáo sĩ triều (thuộc mỗi địa phận) được đào tạo trong các trường chuyên nghiệp, theo học một học trình Quốc Tế là bảy năm, sau khi tốt nghiệp bậc trung học hay "phổ thông". Ở Đại Chủng Viện, họ được học đủ các môn học về đạo và đời, học về phương pháp truyền giáo, và học cả về các tôc giáo khác… Đại Chúng Viện trang bị cho họ đủ khả năng trở thành những "cán bộ" tôn giáo xuất sắc. Nhiều người trong số họ uyên bác và nói chung đều có học thức.
- Hệ quả: Xã hội Việt Nam trọng kẻ sĩ, những kẻ có học thức thường được kính trọng. Các nhà sư nhiều người xuất thân từ thầy cúng, hoặc là đệ tử của các sư cụ khả năng yếu kém, thì sẽ không đủ uy tín lãnh đạo và không tạo được sự kính trọng của người khác. Điều này, đem so sánh với giáo sĩ Công giáo sẽ tạo ra sự ngộ nhận là "kỳ thị Phật giáo".
Trước năm 1955, đạo Phật ở Việt Nam chỉ là những "tập đoàn" rời rạc, quy tụ chung quanh một ngôi chùa hay một tu viện, lấy việc tu niệm làm chính. Các "giáo hội" Tăng già, Thiền tịnh đạo tràng, Tăng sĩ  Theravada, Tăng già nguyên thủy… giữ nguyên bản sắc của mình giống như dòng tu riêng biệt, không lệ thuộc một "giáo hội" trung tâm như Công giáo. Các vị tỳ kheo tu hành thuần túy không màng tới chuyện đời, không lưu tâm tới vật chất. Những dòng tu hoằng dương đạo pháp, không lệ thuộc một giáo quyền nào cả. Ở thôn quê có các ngôi chùa làng. Chùa làng là công sức và của cải của dân làng chung lưng mà dựng nên, không thuộc tập đoàn Phật giáo nào. Khi đã có chùa rồi, thì hội đồng kỳ mục tự tìm kiếm lấy sư để mời về trụ trì, và dân làng cũng có quyền trục xuất vị sư ra khỏi chùa, nếu ông ta phạm giới.
Từ năm 1955, do cố gắng vượt bực về tài chánh, do chính quyền giúp đỡ, Tổng giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có các hoạt động xã hội và từ thiện: hệ thống trung tiểu học Bồ Đề ra đời, mà trước đó không có.
Đồng hóa đạo Phật với dân tộc:
Chắc chắn dân tộc Việt Nam đã có một đạo giáo khác hẳn với đạo Phật. Đạo ấy, là việc thờ cúng tổ tiên và trọng thánh thần. Việc thờ cúng tổ tiên minh thị chấp nhận như chân lý của dân tộc là linh hồn bất diệt. Vì linh hồn bất diệt cho nên mới có việc thờ cúng người chết, xem người chết như còn hiện diện và vẫn tác động vào các sinh hoạt của người sống.
Trong khi đó, thì giáo lý căn bản làm nên Phật pháp của đạo Phật là thuyết luân hồi, phủ nhận linh hồn hằng sống. Đức Phật không dạy rõ, nếu linh hồn không bất diệt thì cái gì sẽ làm cho các pháp (con người cũng là một pháp) được tái sinh vào các cảnh giới trước khi chấm dứt sinh tử thoát khỏi luân hồi mà vào Niết Bàn ???
Các nhà Phật học đã sáng chế ra duy thức học. Cái thức cuối cùng là A-lại-da thức, tiếng Việt dịch là Tâm thức, tức là cái thức "máy móc" tạo thành cái nghiệp theo luân hồi. Dù sao thì thuyết luân hồi cũng trái hẳn với tín ngưỡng của dân tộc là lòng tin vào linh hồn bất diệt qua việc thờ cúng người chết.
Chính vì thế, nên cho dù đạo Phật đã vào nước Việt sớm hơn đạo Thiên Chúa, nhưng mỗi ngày càng xa rời với niềm tin của Đạo Việt tin vào linh hồn hằng sống; đến khi thấy con số tín hữu Công giáo tăng lên vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa, thì các tăng lữ đạo Phật vì không biết làm gì hơn, nên đã lên án chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm là "kỳ thị Phật giáo", là bất công và gian trá.
Nhưng đánh thẳng vào Công giáo không được, vì phạm tới tín ngưỡng của người khác, được xem là tội mọi rợ, bị cả thế giới lên án, vì đó là nhân quyền căn bản và thiêng liêng nhất của con người. Ngay cả cộng sản bài trừ tôn giáo triệt để, nhưng cũng không dám công khai xúc phạm thẳng tới tôn giáo, họ phải nhờ cái cầu "giai cấp". Ở Việt Nam những người thù nghịch Thiên Chúa Giáo đánh Công giáo bằng cách chụp cho Công giáo một cái mặt nạ, một cái mũ. Mặt nạ ấy, là Cần Lao, nhà Ngô và chủ nghĩa Thực dân pháp. Đọc những lời lên án Công giáo đầy rẫy ta thấy rõ "Thực dân, Cần Lao, nhà Ngô chỉ là cái diện để những người thù nghịch đánh vào Công giáo, không những Công giáo Việt Nam mà cả Công giáo hoàn cầu, là Tòa Thánh La Mã.
Nghiên cứu về mưu kế, sách lược này được sách "Tam thập lục kế" gọi là "Thanh Đông  kích Tây hay dương Đông kích Tây". Ở đây không phải là nhà Ngô hay thực dân, mà chính là Đạo Thiên Chúa vậy.
Trở lại cuộc đấu tranh của đạo Phật vào năm 1963. Đa số các tông phái của đạo Phật chỉ lo tu thân, học Phật, nhiều tông phái không muốn lao thân vào cuộc đấu tranh lật đổ "nhà Ngô". Nhiều vị tỳ kheo đức độ nhìn nhận Tổng thống Ngô Đình Diệm là người có công giúp cho các đạo giáo phục hưng và phát triển ở miền Nam, trong đó có đạo Phật. Nếu cứ để tình trạng ấy thì các nhà sư chính khách không thể thực hiện được mưu đồ của mình, mà việc trước mắt là đoàn kết các tông phái rời rạc trong cùng một đạo thu về một mối. Họ đã phát động cuộc đấu tranh: Tổng thống Ngô Đình Diệm trở thành thứ "oan dương" cho họ đổ lên đầu những tội lỗi tưởng tượng.
Kẻ làm chính trị được phép sử dụng những thủ đoạn, được quyền dùng những giả diện để chiếm mục tiêu, nhưng phải thành thật với chính mình, nếu không thì chết. Hứa Du hỏi Tào Tháo về quân lương. Tào Tháo làm mặt bảnh nói quanh, nhưng trong bụng thì lo lắm vì quân hết lương rồi. Sau phải thưa thiệt để Hứa Du hiến kế.
Những kẻ nhận phần trăm dân số đạo Phật ở Việt Nam đã vẽ ra một tương lai tươi sáng cho "đạo pháp và dân tộc" bằng không tưởng, rồi quyết tâm hạ bệ "nhà Ngô". Đến khi "nhà Ngô" đổ rồi, thì đạo pháp trở thành mạt pháp, còn dân tộc thì điêu linh khốn cùng tới tận đất đen. Các tay chính khách đạo Phật từng ngụy trang thành tăng sĩ chính khách, đã đồng hóa đạo Phật với dân tộc, để nhận cái số đông quần chúng làm quần chúng của mình theo cái cách thức của những kẻ làm chính trị. Công thức "đạo pháp và dân tộc" không những trái với lịch sử mà còn tỏ ra là gian dối. Nay họ vẫn chưa từ bỏ tham vọng, dù thực chất của họ chẳng có gì. Những ai có lòng với đất nước Việt Nam không nên ngại ngùng gì mà phải đưa vấn đề ra trước ánh sáng, để quốc dân biết mà tránh sau này.
Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh
 Anonymous has left a new comment on your post "suy nghĩ về Bài viết của Ô Phan Thiết Phạm Kim Khá...": 

Xin góp ý thật ngắn về bài viết của ông Phan Thiết Phạm Kim Khánh:
1. Đặc biệt trân trọng tác gỉa đã có tâm ý tốt, trên lập trường của người QG, đứng về phía nhân dân VN, vạch trần một phần nào đó của bản chất, hiện tượng trong những vấn đề tác giả nêu ra.
2.Nhưng với kiến thức còn nghèo nàn và nhầm lẫn cơ bản về Phật giáo cho nên tác giả và hầu như tất cả những người có "kinh nghiệm chóng quên" về bọn Việt gian CS nên đã "vô tình" (chúng tôi mới nói là "vô tình" thôi nhé) làm cho bọn VGCS, đặc biệt là bọn công an cán bộ VGCS trọc đầu, giả danh đội lốt tôn giáo chúng nó cười trừ khoan khoái. Và chính vì vậy mới có hệ lụy ngày hôm nay, vì sao?
3. Trong phạm vi ngắn ngủi của mục góp ý này vì không thể phân tích tường tận, nên xin hẹn trong các bài bình luận sau này, ở đây chỉ tóm tắt để nêu ra ý chính.
4. Là những người trong đạo Phật,lấy thực hành tu chứng làm gốc chúng tôi hoàn toàn thấu hiểu và thông cảm cho sự nông cạn về Phật giáo và tôn giáo nói chung của giới "Phật tử thuần thành", nhưng sự nông cạn đó có thể "chết người", đặc biệt, nếu người đó phải đảm đương một trách vụ quan trọng nào đó ,nếu có.
5.Chừng nào mà những người Việt Nam có tinh thần quốc gia yêu nước chưa nhìn thấy rõ hoặc vì một lý do nào đó (chúng tôi hiểu thấu những lý do đó), không gọi cho đúng cái tội danh số 1. của bọn "ĐCSVN" là một lũ Việt gian, không mạnh giạn nói thẳng ra trong những hình thức khác nhau...,thì chừng đó vẫn còn bị bọn lưu manh VGCS đó chúng giắt mũi đi dài dài.
6.Đó là một trong những nhận định hết sức đơn giản, nhưng đặc biệt quan trọng, dẫn đến hệ quả đáng buồn sau:
7. Chừng nào "người ta" còn không tách bạch ra cho rõ, cứ dùng chung lộn, tưởng là qua đó đã ám chỉ bọn "VC" là ai rồi, không tách riêng những khái niệm như "Giáo hội Phật giáo VNTN", "tăng ni", hoặc tất cả những gì liên quan đến "Phật giáo", "Những người lãnh đạo PG...", với "tên riêng" của bọn cán bộ đảng viên Việt gian Cộng sản trọc hoặc không trọc, giả danh đội lốt Đạo Phật hoặc các Tôn giáo khác. (Đạo Phật không là một "tôn giáo" như Thiên Chúa giáo chẳng hạn, thì đúng!). Thì chừng đó biết tác giả của nó, dù có hiểu vấn đề tường tận đấy, nhưng chưa thấu đáo, cho nên còn thiếu "một bước duy nhất" nữa, làm sao vẫn "không dám đi"?.
8.Thì chừng đó, tất cả các thông tin quý hóa, kinh nghiệm hiểu biết,tuổi tác, nghề nghiệp, sức lực, lòng yêu nước... của những người trên đây sẽ còn bị dùng một cách lãng phí, chưa nói là sẽ còn muôn năm mắc những quả lừa vô tận mánh, và bọn VGCS chỉ chờ có vậy thôi...
9.Để nói cho rõ, chúng tôi phân định rạch ròi: không nên dùng lời của chính bọn Việt gian CS nó "mớm" cho, rồi đi tuyên truyền hộ cho chúng nó, ví dụ "GHPGVNTN", hoặc "Phật giáo" "Thượng tọa ABC", "đại đứcABC" "Hòa Thượng XYZ" "Chùa ABC", "phản chiến" v.v. một khi đã biết rõ mười mươi cá nhân, cơ sở hội đoàn đó của chúng là do chính bọn Việt gian đội lốt CS trá hình giàn dựng ra,lèo lái, đục rỗng từ bên trong. 
10.Tất cả những "danh từ, khái niệm" mà chúng dùng lẫn lộn để lừa đảo bịp bợm nhân dân hai miền Nam Bắc và cả thế giới từ những thập niên 30 của thế kỷ trước, vào giờ này không thể nào người quốc gia lại đi lập lại không công cho chúng. Ở hải ngoại này lại càng không thể.

Lại hỏi làm thế nào để phân biệt được một nhà Sư thật với bọn Việt gian CS giả người giả thú kia, khi chúng cạo trọc đầu khoác áo cà sa ra ngoài? Không khó! Khó là làm sao mà khi đã biết chúng là ai mà còn không hoặc chưa nói to nói rõ ra, khi hoàn toàn có thể làm được thì cái đó mới là vấn đề...

Vài lời góp ý thô thiển, lời thẳng thật thường đau tai người nghe, đắng miệng kẻ nói. Nhưng đắng làm sao bằng giờ này đất nước và nhân dân Việt Nam vẫn còn bị bọn giả người giả vượn Việt gian CS kia lừa đảo giày xéo.
Trân trọng.
Tay Chơi Hà Nội

No comments:

There was an error in this gadget