Friday, August 28, 2009

Leonard Magruder-Giới Truyền Thông Tầm Vóc Quốc Gia Dối Trá Về Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân

video
Audio

Leonard Magruder

Phần 3 - Làm Sao Giới Truyền Thông Tầm Vóc Quốc Gia Dối Trá Về Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân

Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã được giới truyền thông cấp tiến ở New York tạo ra hình ảnh như là một cuộc bại trận của Hoa Kỳ thật ra, như Tướng Westmoreland và tất cả các nhà sử học đồng ý, hầu như là một cuộc bại trận thảm khốc của Miền Bắc Việt Nam. Không những họ mất một nửa số 90,000 quân mà họ mang ra trong các cuộc đánh, mà Việt Cộng hầu như hoàn toàn bị tiêu diệt.

Trái ngược với sự trù liệu của Miền Bắc, dân chúng Miền Nam đã không làm gì giúp những kẻ xâm lăng. Thay vào đó, họ đã nổi dậy trong sự đột ngột và chống trả, chính quyền và dân chúng lần đầu tiên đã khích động thành một khối và nhiều người tình nguyện vào quân lực VNCH gần gấp hai.

Ở Hoa Kỳ, những sự kiện rõ ràng trong cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân, cuộc chiến không phải là cuộc "nội chiến", Miền Nam rõ ràng không muốn sống dưới sự cai trị của Cộng Sản và muốn người Mỹ viện trợ, và người Miền Bắc Việt Nam là người đưa đến sự "diệt chủng" và "gây hấn" qua vụ thảm sát tại Huế và phóng hỏa tiễn vào những thường dân tay không, chính ra đã chấm dứt những luận điệu của phong trào "hòa bình". Đó là những giây phút của sự thật cho những người ở các trường đại học và giới truyền thông. Họ đã rớt cuộc thi. Những dối trá được tiếp tục tái diễn một cách điên tiết.

Giới truyền thông New York, thấy một cơ hội để lợi dụng tin tức hầu xen lẫn những quan điểm chiến tranh của mình một cách hữu hiệu tới quần chúng Hoa Kỳ giờ đây tạo nên, và cố tình duy trì, một hình ảnh "thảm khốc", ngay cho dù hình ảnh đó trái ngược với những tường trình được gửi về từ chiến trường. Hình ảnh này đã được các vị cố vấn của Tổng Thống Johnson tin một cách nghiêm trọng đã làm thay đổi hoàn toàn kết cục của cuộc chiến ở ngay giây phút chiến thắng đã có thể xẩy ra. Tự do truyền thông đã cướp đi khả năng phán đoán nghiêm trọng của chính quyền và dân chúng Hoa Kỳ về những quyền lợi an ninh sống còn của họ trong thời chiến.

Lý do đau thương thật sự khiến chính sách thay đổi sau cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân, được thấy trong lời Tổng Thống Johnson nói với Tướng Westmoreland lúc bấy giờ là theo đuổi cuộc chiến mạnh bạo hơn không thích hợp với khung cảnh chính trị, và ông đã "chẳng có sự lựa chọn nào ngoài việc cố xoa dịu những kẻ phản chiến để họ khỏi bất thình lình đòi người Mỹ rút ra một cách hèn hạ" (American in Vietnam, Levy, 1978). Một trong những hiện tượng không thể tin được trong lịch sử chiến tranh, trong thời kỳ này, đã phải cám ơn giới truyền thông, là không có một sự tương quan hợp lý nào giữa những gì thật sự đang xẩy ra ở Việt Nam và phản ứng tại mặt trận hậu phương. Phản ứng từ sự chiến thắng là nỗi tuyệt vọng. Đây là những gì mà giới truyền thông gọi là "chiến thắng tâm lý" do chính họ tạo ra.

Và sự nhục nhã suốt đời của họ, phong trào "hòa bình" đã đối lại với bất cứ dấu hiệu thành công nào bởi lực lượng Hoa Kỳ trong Trận Mậu Thân là sự hốt hoảng, sợ quốc gia của chính mình sẽ thắng cuộc chiến. Như ứng cử viên tổng thống George McGovern đã nói với cựu chiến binh Hoa Kỳ và là cựu Bộ Trưởng Hải Quân James Webb rằng "Ông không hiểu là tôi không muốn chúng ta thắng cuộc chiến đó" (American Enterprise Mag. May/June 1997).

Tờ The National Vietnam Veteran's Review, số tháng 4 -6 năm 1986, có 1 bài báo đăng nơi trang nhất (có hình ảnh) tựa đề "Giáo Sư Kêu Gọi Quốc Hội Điều Tra Về Sự Đối Xử Của Báo Chí Trong Cuộc Chiến Tranh Việt Nam". Trong suốt thời kỳ đó, ông Magruder đã phân phát một bản "Yêu Cầu Quốc Hội" tới hầu hết các vị Dân Biểu, Nghị Sĩ kêu gọi Quốc Hội điều tra vì làm sao mà một cuộc chiến thắng rộng lớn của người Mỹ đã bị tường trình tới dân chúng Hoa Kỳ như là một cuộc bại trận. Điều yêu cầu này đã được 12 hiệp hội lớn của cựu chiến binh Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam và Tướng Westmoreland ủng hộ. Như được nói trong bài báo đăng trong tờ N.V.V.R, "Tướng Westmoreland, người đã gọi điện thoại cho Ủy Ban Chỉ Đạo (Streering Committee), công bố trước công chúng trong tuần này, đề án của Giáo Sư Magruder là một vấn đề cực kỳ quan trọng và tôi ủng hộ những nỗ lực của ông ta 100%".

Những bản sao tài liệu mà ông Magruder gửi tới Quốc Hội đã được phân phát tới tất cả các cơ quan báo chí qua trụ sở Báo Chí Quốc Gia ở Washington, nhưng không một tờ nào đăng lại trên báo. Giới truyền thông luôn luôn cố gạt bỏ lời buộc tội đã sạo sự về cuộc Tổng Tấn Công Tết như một sự tưởng tượng kỳ quặc của cánh hữu, nhưng trong tài liệu phân phát tới Quốc Hội của ông Magruder đã trích dẫn từ 21 tiêu chuẩn lịch sử và những lời bình luận về cuộc chiến Việt Nam như sau:

"Quân địch bị tổn thất nặng nề, ông ta gửi tổng cộng 84 ngàn quân. Ông ta mất 40 ngàn quân bị tử thương." (Bản báo cáo của Tướng Earl G. Wheeler, Tổng Tham Mưu Trưởng, trong cuộc Tổng Tấn Công Tết. Ngày 27 tháng 2 năm 1968) (Ghi chú: quân đồng minh tổn thất 927. Đây là một sự thảm khốc cho Miền Bắc VN song le đài CBS lại gọi là "một sự bế tắc")

"Quân đồng minh phản công sau Tết tiêu hủy cơ sở của Việt Cộng và là một sự thất trận lớn lao của Miền Bắc. Tuy nhiên mạc dù chiến thắng như vậy, giới báo chí ở Hoa Kỳ đã biến Tết thành một cuộc thất trận của Hoa Kỳ." (Những Trận Chiến Lớn của Thế Kỷ 20 - Great Battles of the 20th Century - Sir Basil Liddell Hart).

"Việt Cộng bị thương vong nặng nề... nhưng trường hợp này không phải là điều phản ảnh trên những bản tường trình báo chí hay trên những đài truyền hình ở Hoa Kỳ." (The Unmaking of a President - Hebert Schandler).

"Tiếp theo Tết, quân địch đã bị hoàn toàn thất thế (nhưng) quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới đã không có sức mạnh của ý chí để trực diện tình hình." (Strategy for Defeat - Admiral Sharpe)

"Quân đội chính quy Miền Bắc Việt Nam và quân du kích Việt Cộng đã hoàn toàn thất trận trên chiến trường. Công nhận là Hoa Kỳ ưu việt hơn lúc đó, ít nhất các lực lượng Miền Bắc Việt Nam bị tiêu diệt" (Crossroads of Modern Warfare - Drew Middleton).

"Ấn tượng tạo ra bởi giới báo chí và truyền hình phóng sự về cuộc tổng tấn công là một sự thất trận lớn lao cho nhân dân Hoa Kỳ và và Miền Nam Việt Nam." (Why We Were in Vietnam - Norman Podhoretz).

"Cuộc chiến hãy còn có thể mang lại nhiều lợi thế sau này, sau cuộc thất trận của cuộc Tổng Tấn Công Tết của quân địch. Nhưng điều này đã không xẩy ra. Giới báo chí và truyền hình đã tạo ra một hào quang, không phải chiến thắng, mà là bại trận" (A Soldier Reports - General William Westmoreland).

"Giới báo chí chống lại lời tuyên bố chính thức về sự bại trận của Cộng Sản bằng cách nói rằng ngay cho dù điều đó là đúng (điều mà họ phủ nhận dù chính họ đếm sự tổn thất chính thức của quân địch) Cộng Sản đã chiến thắng cuộc chiến tranh tâm lý" (The Vietnam War - an international panel of historians).

"Đây là cuộc chiến duy nhất bị thua trên những cột báo của tờ New York Times. Họ đã tạo ra một hình ảnh Miền Nam Việt Nam quá xa vời sự thật, ngay là một bức tranh biếm họa cũng dở. Có những kẻ đặt điều, bóp méo sự thật và dối trá". (Certain Victory - Dennis Warner)

"Du khách viếng thư viện Lyndon Johnson được nghe, "trong khi Tổng Thống đang đọc những bản tường trình từ cuộc chiến cho biết rõ ràng là quân địch đã bị tổn thất quân sự nặng nề (Tết), báo chí và truyền hình tạo ấn tượng là chúng ta bị tổn thất và việc bại trận không thể tránh được." (New York Times News Service)

"Liên Quân Khu, Tổng Hành Dinh của Việt Cộng, trong bản tường trình số 6 của họ, tháng 3 năm 1968, đã công nhận cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã thất bại: "Chúng ta thất bại trong việc đoạt một số các mục tiêu chính. Chúng ta cũng đã thất bại giữ đóng những vùng đã chiếm được. trong lãnh vực chính trị, chúng ta đã thất bại thúc đẩy nhân dân đứng lên làm cuộc khởi nghĩa." (The Magruder Expose - Leonard magruder).

"Đây là lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, kết quả của một cuộc chiến được quyết định không phải trên bãi chiến trường mà trên những trang giấy in và những màn ảnh truyền hình - chưa bao giờ trước đây Việt Nam có một chính sách chung mà giới truyền thông lục kiếm, bằng hình ảnh và bóp méo sự thật không ngừng nghỉ, cuộc chiến thắng của quân địch của những phóng viên bên chính mình." (Encounter-British journalist Robert Elegant).

"Đó là sự thất bại quân sự lớn lao của Việt Cộng và Miền Bắc VN đã chứng minh chỗ rẽ chính trong sự quyết tâm của Hoa Kỳ. Nói theo kiểu quân đội đó là sự bại trận lớn lao của Giáp. Tuy nhiên, trên những màn ảnh truyền hình của Hoa Kỳ, Tết đã trở thành một cuộc chiến thắng của những người Cộng Sản." (Vietnam - Ian Beckett).

"Ông Jack Fern của đài NBC đưa ý kiến với vị chủ nhiệm chương trình của NBC, ông Robert Northfield, là làm một cuốn phim tài liệu trình chiếu về Tết rõ ràng là một cuộc chiến thắng không thể chối cãi của Hoa Kỳ.""Chúng ta không làm được," ông Northfield nói, "Tết đã được kiến lập trong đầu của quần chúng như là một sự bại trận". (Between Fact and Fiction - Edward J. Epstein)

"Khi Tướng Westmoreland công bố với quần chúng là cuộc Tổng Tấn Công Tết là sự thất trận lớn lao của Cộng Sản và là một sự thắng trận to lớn cho những lực lượng Đồng Minh, một sự kiện rõ ràng cho bất cứ ai xem sự kiện đó một cách bình thản, ông ta đã bị coi như là một thằng ngu tự lừa dối mình qua giới báo chí truyền thông." (Battles and Campaigns - Tom Carhart)

"Cuộc Tổng Tấn Công Tết đã là tai họa cho những kế hoạch của chúng tôi. Thật là một điều mỉa mai cho cuộc chiến Việt Nam là sự tuyên truyền của chúng tôi đã biến điều tai họa này thành một sự chiến thắngxuất sắc. Thật ra chúng tôi trả giá bằng nửa lực lượng trong vụ Tết. Sự tổn thất của chúng tôi quá to lớn đến nỗi chúng tôi đã không thể thay thế đủ với số tân binh mới." (Trương Như Tảng - Minister of Justice - Vietcong Provisional Revolution Government - The New York Review, Oct. 21, 1982)

"Sự xung đột giữa quân đội và đoàn báo chí Saigon đã là cuộc thử thách trong việc tranh luận về Chiến Lệnh (Order of Battle). Nhưng đài CBS đã không chịu thông dò thêm về sự xung đột đó - vì để làm điều đó, đài phải đưa ra những văn thư lưu trữ của mình trong thời kỳ đó, bao gồm cả việc những lời bình luận quan trọng của Walter Cronkites tuyên bố, sau vụ Tết, rằng sự chiến thắng của Hoa Kỳ khó có thể xẩy ra và một sự ngưng bắn phải được thương lượng." (A Matter of Honor - Don Kwit)

"Mặc đù đó là cuộc chiến thắng oanh liệt của Miền Nam VN và Hoa Kỳ, hầu như tất cả phóng sự của giới truyền thông cùng một chủ đề chung là chúng ta đã bị thua thảm khốc. Những tiếng trống khua thường xuyên của những câu chuyện không đúng này đã thuyết phục được hàng triệu người Mỹ là chúng ta đã thua trận lớn." (No more Vietnam - Richard Nixon)

"Huyền thoại được tạo ra (bởi giới truyền thông) rằng cuộc chiến này không thể thắng được, và điều đó đã ảnh hưởng rõ ràng đến quyết tâm của người Hoa Kỳ." (War in Peace - Sir Robert Thompson)

"Hiếm khi nào có một cuộc khủng hoảng báo chí hiện đại xẩy ra, nhớ lại, đã cách quá xa sự thật. Về cơ bản, những chủ đề ngự trị của lời nói và phim ảnh về Việt Nam đã cộng lại thành một hình ảnh bại trận cho Đồng Minh. Những sử gia, trái lại, đã kết luận là Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân kết cục là một thất trận nặng nề về cả hai mặt quân sự và chính trị cho Hà Nội ở Miền Nam Việt Nam. Để tạo nên một hình ảnh với một cuộc thất trận như vậy của bên này thành một sự bại trận của bên kia - trong một cuộc khủng hoảng ngoài nước - không thể tính như là một sự huy hoàng của giới báo chí Hoa Kỳ... và nó có thể xẩy ra như vậy nữa." (Big Story - 2 vols. - Peter Braestrup)

"Nếu có sự điều tra liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc điều tra nên về lý do tại sao sự tuyên truyền của kẻ địch lại trải khắp trên nước này, và tại sao kẻ địch lại có thể uốn nắn công chúng tới mức độ mà giới có học nhất trong dân chúng của chúng ta lại tin vào những luận điệu không thể nào tin được." (Final Report - Chief of Military History - U.S Government)

Khi nào cuộc điều tra này được bắt đầu? Trong bốn năm cuối cùng của cuộc chiến, nhiều mạng người đã mất, và sự bỏ rơi cuối cùng của Hoa Kỳ với dân chúng miền Nam Việt Nam, Lào và Căm Bốt, đã là cái giá phải trả cho hành động chiều theo sự thịnh nộ của phong trào "hoà bình" nơi học đường và giới tự do báo chí ở New York. Nước Mỹ, qua sự thiếu vắng một nền tảng đạo đức và sự trí thức ngụy biện của nền tự do học đường và những nhà báo đã chịu không nổi nỗ lực tuyên truyền thành công nhất từ xưa tới giờ trên thế giới. Làm cách nào mà giới học đường và giới truyền thông đã dối trá về Việt Nam là một chấn thương to lớn trong chuỗi kiện lịch sử Hoa Kỳ chưa bao giờ gặp.

Phần 4: Làm Thế Nào Đài CBS Đã Ém Nhẹm Việc Trình Bầy Của Magruder Về "Kẻ Địch Không Kể"

"Ông đã hoàn thành một công trình nghiên cứu hết sức tỉ mỉ và Tôi chúc mừng ông" - Tướng William C. Westmoreland

Ngày 23 tháng 1 năm 1982, 8 tháng sau khi Giáo Sư Magruder xin từ nhiệm tại viện đại học Suffolk, N.Y để phản đối giới truyền thông và học đường đã nói dối về Việt Nam, đài CBS cho trình chiếu một cuốn phim tài liệu dài 90 phút trong giờ chính trên đài truyền hình với tựa đề ""Kẻ Địch Không Kể: Một Sự Lừa Đảo Việt Nam", sản xuất bởi George Crile và được thuật lại bởi Mike Wallace. Chương trình này buộc tội rằng giới an ninh tình báo quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam bị Tướng Westmoreland ra lệnh, đã toa rập để lừa Tổng Thống Johnson, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội, Quốc Hội và dân chúng Hoa Kỳ bằng cách đều đặn báo cáo những tin thất thiệt về sức mạnh của quân thù và làm như là Tướng Westmoreland đang thắng cuộc chiến. Theo đài CBS thì điều này được thực hiện qua việc giảm thiểu gấp năm lần khi phỏng đoán quân địch trà trộn 5 tháng trước cuộc Tổng Tấn Công Tết, và đã không kể trong sổ Chiến Lệnh (Order of Battle) thường dân ở các làng ủng hộ Việt Cộng; Dân Quân Tự Vệ (villager self defense) và các cán bộ nằm vùng (secret self defense). Mục đích của sự lường gạt này, theo đài CBS, là để dẫn dắt dân chúng tin là Hoa Kỳ đang thắng cuộc chiến trong khi đó thật ra, theo đài CBS, là Hoa Kỳ đang thua. "Mưu đồ" này, ông Mike Wallace nói, đã đưa đến việc hoàn toàn không chuẩn bị cho việc Tổng Tấn Công Tết, lính Hoa Kỳ thương vong một cách oan uổng, và trong phần phân tích cuối, đã làm thất chiến.

Chương trình này đã được hầu hết giới báo chí Hoa Kỳ tin tưởng không cả dè dặt. "Từ tờ The Nation đến tờ Wall Street Journal" như lời của Renata Adler nói trong cuốn "Bất Chấp Bạt Mạng" (Reckless Disregard), "Không một ký giả hay một tờ báo nghiêm chỉnh nào đặt câu hỏi về bất cứ điều gì trong chương trình 90 phút đó. Các nhà bình luận, một cách đơn giản, coi cuộc phát hình đó là sự thật." Đây là một bằng chứng hùng hồn về sự dốt nát không biết gì của đất nước về cuộc chiến Việt Nam, qua nhiều năm bị bóp méo sự thật bởi giới truyền thông. Họ nói dối về chủ đề này nhiều đến nỗi chính họ cũng ở trong đám sương mờ.

Giáo Sư Magruder tức khắc thấy được những điều không nhất quán một cách nghiêm trọng và những điều dối trá trắng trợn trong cuốn phim đó. Một cách kinh ngạc, ông ta thấy rằng đài CBS vừa là một thí dụ cũ rích về sự dối trá, mà ông ta vừa mới từ nhiệm để phản đối, và ngay lập tức bắt đầu cuộc tìm tòi tài liệu để vạch trần cuốn phim.

Ngày 28 tháng Ba năm 1982, 150 bản thảo của một bài viết dài 21 trang ghi lại hàng loạt những dối trá từ đầu đến cuối của cuốn phim của đài CBS, đã được ông Magruder và các sinh viên của ông ta mang đưa tận tay tới tất cả giới truyền thông thượng lưu, cao quý ở New York, kể cả việc gửi qua ngã bưu điện. Những người được gửi đến ở đài CBS gồm các vị giám đốc đài, Mike Wallace, Dan Rather và George Crile. Những vị giám đốc và những nhà đọc tin như Frank Reynolds, Sam Donaldson, Roger Mudd, Peter Jennings, Tom Brokaw, và John Chancellor của đài ABC và đài NBC cũng được gửi các bản thảo cùng với các giám đốc, các vị chủ bút, và những nhà bình luận của của tờ New York Times, Newsweek, Newsday và tờ Washington Post. Khoảng ba chục bản sao đã được đưa cho những nhà bình luận như Tom Wicker, Harriet Van Horne, và Anthony Lewis.

Bài viết ghi lại đầy đủ, chứng minh là đài CBS đã dối trá với quần chúng Hoa Kỳ với một tầm mức trọng đại, giống như họ thường xuyên dối trá trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, và nhất là trong suốt cuộc Tổng Tấn Công Tết, đã lập tức được toàn thể các cơ sở tự do báo chí ở New York dấu nhẹm.

Ngày 29 tháng 5 năm 1982, 2 tháng sau khi dấu nhẹm việc phô bầy của Magruder, câu chuyện được loan ra trên tờ bìa của tờ TV Guide, viết bởi Don Kowit và Salley Bedell, dựa trên bản thảo của những cuộc phỏng vấn của đài CBS cho cuốm phim. Bài báo, mặc dù không dài và chi tiết như bài viết của Magruder, đã quá đủ để chứng minh rằng cuốn phim tài liệu của đài CBS bị rắc rối nghiêm trọng.

Bài báo chứng minh rằng đài CBS đã trả tiền và dặn người ta phải nói những gì, đã cố tình chọc tức ông Westmoreland khiến ông ta giống như kẻ phạm tội trên cuốn phim, đã từ chối không chịu để trong cuốn phim những sửa sai như ông ta yêu cầu, từ chối không chịu để những chứng cớ mà ông Walt Rostow đưa ra để chứng tỏ ông Jonhson đã được thông báo đầy đủ về sự gia tăng xâm nhập, cuộc Tổng Tấn Công Tết sau đó, và vụ cãi cọ về Chiến Lệnh, đã dối trá về những nỗ lực để liên lạc với Tướng Phillip Davidson, người cầm đầu cơ sở tình báo ở Việt Nam, và đã chối từ lời khai của George Carver, người cầm đầu tình báo CIA ở Việt Nam mà chắc chắn sẽ làm mất giá trị những luận điểm của cuốn phim của đài CBS. Bài báo cũng đã chứng minh rằng, trong cuốn phim, những lời của Đại Tá Gains Hawkins nói về con số ước lượng cao nhất của địch quân mà ông Westmoreland cho ông ta biết đã mâu thuẫn gấp 4 lần qua lời nói từ ông Hawkins với ông George Crile như đã được thấy trong cuốn phim, và đài CBS đã cố tình nhét phần trả lời của Tướng Westmoreland vào chỗ không đúng của cuốn phim, trong nỗ lực làm giảm uy tín của ông ta.

Khi Tướng Westmoreland nhận được bản bạch hóa của ông Magruder, ông ta đã viết cho Giáo Sư Magruder một bức thư riêng, nói rằng "Ông đã hoàn thành một công trình nghiên cứu hết sức tỉ mỉ và tôi chúc mừng ông. Tôi đang gửi thư của ông và những tài liệu đính kèm đến luật sư của tôi." (bức thư đề ngày 13 tháng 9 năm 1982).

Trong bản bạch hóa của Magruder cho biết trong cuốn phim, ông Mike Wallace đã không nói cho khán giả biết rằng luận điệu từ đầu đến cuối của cuốn phim của đài CBS, dựa trên những lời kết tội của Sam Adam, một phân tích viên của CIA, đã được điều tra hoàn toàn và miễn bỏ bởi Ủy Ban Đặc Biệt của Hạ Viện về Tình Báo năm 1975 và đã được truyền thông đầy đủ lúc đó qua giới báo chí. Adams, một người xuất thân từ trường đại học Harvard, cảm tình viên về quan điểm khuynh tả của những kẻ lãnh đạo phong trào phản chiến, và người đã ra chứng nhận cho Daniel Ellsberg lúc ra tòa, đã hy vọng rằng qua sự ước đoán 600,000 quân Việt Cộng của mình sẽ khiến ông Johnson phải rút ra khỏi cuộc chiến. Ông này tin tưởng dữ dội vào quan điểm "cách mạng nhân dân" của những người Marxist, và luôn luôn cố chứng minh qua những con số của mình là chính "người dân" là những người đang đấu tranh, không được sự trợ giúp nào từ Miền Bắc, cùng một huyền thoại ngây thơ được tuyên truyền tại các học đường bởi phong trào "hòa bình" và giáo phái báo chí New York.

Wallace cũng đã không cho khán giả biết rằng Adams, trong 1 bài báo của tờ Tạp Chí Harper số Tháng Năm, 1975 và một lần nữa trong cuộc điều tra của Quốc Hội, đã chú tâm là CIA, không phải Tướng Westmoreland, đã loại bỏ sự ước đoán của ông ta về sức mạnh của Việt Cộng. Phụ đề của bài báo của ông ta là "Một Mưu Toan Của CIA chống Lại Chính Tình Báo Của Mình". Theo ông Rufus Taylor, Phó Tổng Giám Đốc cơ quan CIA từ năm 1966 tới năm 1969, trong 1 bức thư trả lời bài báo của Adams đăng trong số Tháng 7, 1975 của tờ Harper, "Chúng tôi thấy chẳng có một giá trị gì để giới thiệu Sam hay lời kết luận của anh ta với Tổng Thống." Ông James Graham, một thành viên của Hội Đồng Tình Báo Quốc Gia, viết về cùng vấn đề của bài báo trên tờ Harper, "anh ta giả định rằng những điều nhận định như vầy thường được chấp nhận trong cơ quan CIA là một điều bóp méo sự thật". Ông ta đã buộc tội Adams là đã chuyển đạt một "ấn tượng sai lạc về một thân một mình tranh đấu để thông báo sự thật tới tòa Bạch Ốc, chống lại một thế lực vĩ đại của vô số những kẻ bất lương và hèn nhát." Sự thật, ông Graham nói "Trong 25 năm làm việc cho cơ quan CIA, tôi chưa bao giờ thấy một phân tích viên nào đã được chú ý tới nhiều hơn, nhiều cơ hội để trình bầy chứng cớ và giải bầy vụ của mình như vậy." Nhưng vụ của anh ta thì quá kỳ dị đến nỗi không ai có thể tin được, ngoại trừ ông Mike Wallace và đài CBS.

Ông Wallace đã không nói cho khán giả biết rằng chưa một lúc nào cơ quan CIA đã coi trọng sự phỏng đoán con số 600 ngàn quân Việt Cộng của Adam. Sự phỏng đoán mà cuốn phim của đài CBS dựa trên, đã bị chính Hội Đồng Cố Vấn Về Tình Báo Ngoại Quốc của Tổng Thống Johnson loại bỏ; và cả hai ngành, Tình Báo trực thuộc Ban Giám Đốc và Văn Phòng Giảm Định Quốc Gia, của cơ quan CIA. Lời nói then chốt của Wallace trong cuốn phim là CIA đã "lục đục với Washington khi Washington chấp nhận sự phỏng đoán của Adams" là điều không đúng sự thật. George Crile, người sản xuất cuốn phim này của đài CBS, phải biết những sự kiện này. Ông ta đã là vị chủ bút cho bài báo của Adams đăng trên tờ Harper năm 1975 mà tất cả những lời ở trên được trích ra. Hơn nữa, tất cả những điều này phải được hầu hết các nhà bình luận cấp tiến biết tới, như Anthony Lewis của tờ New York Times đã nhận được những bản thảo sự vạch trần của Magruder, mà hầu hết những điều trong bản vạch trần đó được dựa trên những bài báo của họ đăng vào cùng thời gian cuộc điều tra của Quốc Hội qua lời buộc tội của Adams. Họ đã biết là cuốn phim của đài CBS là một sự bôi bẩn Tướng Westmoreland dựa trên những lời dối trá, nhưng họ đã không hề mở miệng vì nó phục vụ mục đích ý thức hệ của họ.

Trích từ cuốn hồi ký của Tổng Thống Jonhson, "Điểm Thuận Lợi" (The Vantage Point), Magruder đã chứng minh không những Tướng Westmoreland lúc nào cũng thông báo tới Tổng Thống Johnson và dân chúng Hoa Kỳ về tình trạng ở Việt Nam, mà Tổng Thống Johnson cũng đã được thông báo đầy đủ về vụ tranh cãi "Chiến Lệnh", sự gia tăng xâm nhập của quân đội chính quy Bắc Việt, kể cả tổng quát thời gian và mục đích của cuộc sửa soạn Tổng Tấn Công Tết. Cả hai ông Johnson và Westmoreland đều chỉ trích việc giới báo chí Hoa Kỳ đã không đăng tin cho dân chúng Hoa Kỳ biết về những điều họ đã cảnh cáo về cuộc sắp sửa Tổng Tấn Công Tết. Giới báo chí sau đó đã dùng việc mất tinh thần của dân chúng (điều mà họ tạo nên) như là một lý do để làm mất uy tín về những lời tuyên bố lạc quan trước đó của Tổng Thống Johnson và Tướng Westmoreland. Giới báo chí đã cố tình phớt lờ về những lời cảnh báo về Tết của họ để dương bẫy cho sự chỉ trích sau này.

Một số các nguồn tin đã được ông Magruder trích dẫn mà đài CBS đã có thể tìm những hồ sơ quân sự chính thức một cách dễ dàng về sự gia tăng xâm nhập mà ông Mike Wallace buộc tội Tướng Westmoreland là đã chận lại không cho ra. Ông ta cũng đã đưa ra Đại Tướng McChristian, người mà trong phim mang hình ảnh là đã bị Tướng Westmore chận lại những lời cảnh báo của mình, khiến quân đội đã không sẵn sàng trong vụ Tổng Tấn Công Tết, đã được trích trong một bài bình luận của Jack Anderson hôm 31 tháng 10 năm 1975 rằng "Đã có đủ các dữ kiện để tiên đoán một cuộc tấn công vào mùa xuân năm 1968," và Tướng Westmoreland đã "rất xem trọng" lời của ông ta.

Cuốn phim của đài CBS là một sự cố gắng tuyệt vọng cuối cùng của giới truyền thông trong việc dành phần thắng về quan niệm cuộc chiến của phong trào "hòa bình". Họ bị phản ứng ngược một cách thê thảm, kết quả là một sự vạch trần hoàn toàn một cách chính xác cách làm sao mà giới truyền thông (và cả các viện đại học), như là ông Magruder đã công bố ở lúc từ chức để phản đối, đã dối trá về cuộc chiến Việt Nam. Những điều xảo trá trong cuốn phim Tổng Tấn Công Tết như một sự bại trận là sự lập lại những hình ảnh mà đài CBS đã tạo nên về cuộc tấn công trong lúc đó.

Sự kém cỏi của Adams trong bài báo của mình mà ông ta đã ước đoán khoảng 10 ngàn quân nhân Mỹ thiệt mạng trong cuộc Tổng Tấn Công Tết. Con số được công nhận là 927 mạng. Ông Magruder đã chỉ rõ trong một bản lượng định cuối cùng của CIA về Adams như một phân tích viên, một thời gian ngắn trước khi ông ta từ chức dưới áp lực, đã miêu tả ông ta như là "hạng thứ" khi thực hành cuộc nghiên cứu, và đã mất sự "thăng bằng và khách quan".

Luận điệu từ đầu đến cuối của cuốn phim của đài CBS - Wallace, nói là đây là một âm mưu của quân đội để che dấu sức mạnh quân địch trong việc ủng hộ lời tuyên bố của Tổng Thống Johnson về những tiến triển và đã đưa đến cuộc chiến thắng thảm khốc bất ngờ của Cộng Sản trong ngày Tết, và rồi con số ước lượng của Adams đã được công nhận, đưa đến sự từ nhiệm của Tổng Thống Johnson và chấm dứt cuộc chiến, là một sự dối trá được duy trì và kéo dài, như Tướng Westmoreland đã nói: "một sự bịa đặt độc hại đáng quở trách và vô trách nhiệm." Cuốn phim là một sự coi thường trình độ hiểu biết của dân chúng Hoa Kỳ và là một điều vu khống những người đã phục vụ tại Việt Nam, do những người đã phản bội lại cả quyền lợi quốc gia lẫn dân chúng Hoa Kỳ.

Ngày 13 tháng 9 năm 1982, Tướng Westmoreland thưa đài CBS 120 triệu đô la cho tội phỉ bảng, gọi cuốn phim "ác ý, dối trá và đê tiện." Ông Magruder lúc đó biết là sự từ nhiệm của mình để phản đối giới truyền thông đã dối trá về cuộc chiến Việt Nam thì đang bắt đầu được làm sáng tỏ bởi một cuộc thưa lớn nhất từ xưa tới giờ tới giới truyền thông. Tướng Westmoreland có nói trong bức thư rằng ông ta đã gửi bản vạch trần mà ông Magruder đã gửi cho ông ta tới luật sư của mình, ông Dan Burt. Ngày 4 tháng 2 năm 1984, ông Burt đã viết cám ơn ông Magruder về bài phân tích. Có thể ông Burt sẽ dùng bài vạch trần như là bản hướng dẫn trong việc hoạch định kế hoạch tấn công đài CBS, vì cho tới ngày xử, bản vạch trần của Maguder hãy còn là bản hay nhất kể tỉ mỉ chi tiết những lời dối trá trong cuốn phim. Vì vậy có thể thông hiểu được ông Magruder đã thật thỏa mãn, sung sướng ngồi xem trên đài ABC, hôm mùng 10 tháng 10 năm 1984, hàng loạt các vị tướng và đại tá đã ra tòa khai về sự dối trá của đài CBS.

Vụ xử kiện, cuối cùng đài CBS đã phải xin lỗi Tướng Westmoreland, phá nát sự khả tín chương trình Tin Tức của đài CBS đến nhiều thập niên sau.

No comments:

There was an error in this gadget