Friday, October 1, 2010

Nhục Thân của Hoà thượng Hổ Phách tại Thái Lan

Nhục thân Hòa thượng Hổ Phách tại Thái Lan

image

Chúng tôi được biêt tại Thái Lan, ngoài nhục thân của Hòa thượng Phổ Sái tại chùa Khánh Vân còn có một nhục thân nữa. Đó là nhục thân của Hòa thượng Hổ Phách tại thất Khánh Thọ(1) thuộc tỉnh Kanchanaburi, cách thủ đô Bangkok hơn 100 km.

Sau đây chúng tôi xin dịch bản tóm tắt tiểu sử của Hòa thượng Hổ Phách, được ghi bằng Hán văn, dựng ngay trong tổ đường, nơi thờ nhục thân của ngài tại thất Khánh Thọ.

“Thiền sư Hổ Phách tên là Trần Xuân Dụ, phụ thân tên Trần Chiếm và mẫu thân tên Lâm Đức Ma. Ngài là huynh trưởng trong gia đình có ba anh em trai. Ngài sinh tại tỉnh Kanchanaburi vào năm Phật lịch 2447 tức năm Giáp Thìn (1904). Năm 11 tuổi ngài xuất gia tại chùa Khánh Thọ[2], thờ Hòa thượng Bạch Ngọc[3] làm bổn sư. Thiền sư Hổ Phách một đời từ bi thương người, chuyên tâm tu học, chăm chỉ hành thiền, không giữ tài vật, xả bỏ tất cả, trường trai thanh tịnh, chuyên cần tụng niệm, luôn nhập thiền định, cầu sớm ngộ đạo, liễu thoát sinh tử, quyết tâm trừ bỏ tất cả dục tình; do đó đạt được trí tuệ, đạo đức, Phật tử xa gần tôn sùng quy ngưỡng. Vào ngày 1 tháng 2 năm Phật lịch 2493 tức thứ Tư ngày 15 tháng 12 năm Kỷ Sửu(1949), tại thất Khánh Thọ này, Thiền sư Hổ Phách viên tịch một cách nhẹ nhàng như người đang ngủ, hưởng thọ 46 tuổi, xuất gia hành đạo được 35 năm. Sau khi ngài viên tịch được 7 ngày, môn đồ đặt kim quan của ngài tại thất Khánh Thọ này, định ba năm sau tổ chức lễ hỏa táng. Nhưng ba năm sau, khi mở nắp kim quan, thân của thiền sư không bị hủy hoại, da thịt khô, sáng, mắt hơi mở, tượng giống như hồi còn sinh tiền không khác. Thiện tín xa gần đều đến tham quan và tất cả đều công nhận rằng thiền sư Hổ Phách tu hành đắc đạo, đạt được diệu qủa. Ban quản lý thất Khánh Thọ cùng nhau bàn bạc, cuối cùng quyết định phủ vàng lên nhục thân của ngài và thờ nhục thân của ngài tại tổ đường này.”

Trên đây là sơ lược tiểu sử của thiền sư Hổ Phách tại thất Khánh Thọ. Tiểu sử này qúa sơ sài, không cho chúng ta biết nhiều về hành trạng của ngài và lý do tại sao ngài lại viên tịch tại thất chứ không phải là chùa Khánh Thọ nơi ngài xuất gia. Và sự khác nhau giữa chùa Khánh Thọ và thất Khánh Thọ là gì. Rất may, vì thiền sư mới viên tịch cách đây khoảng 60 năm nên chắc chắn còn có nhiều người đang sống biết về hành trạng của ngài. Chúng tôi được gặp và nghe Hòa thượng trụ trì chùa Sắc tứ Cảnh Phước ở Bangkok, Thái Lan, là đệ tử út của thiền sư Hổ Phách kể về cuộc đời của bổn sư mình. Sau đây là lời kể của Hòa thượng trụ trì chùa Cảnh Phước :

“Thiền sư Hổ Phách rất thông thạo tiếng Việt, xuất gia với Hòa thượng Bạch Ngọc tại chùa Khánh Thọ. Phái Annam Nikaya[4] tại Thái lan ngày xưa không có nhiều tăng sĩ nên sau khi vị Hòa thượng trụ trì của một ngôi chùa nào đó viên tịch thì chùa thỉnh chư tăng từ các chùa khác đến trụ trì. Cho nên khi Hòa thượng trụ trì chùa Hội Khánh[5] viên tịch, bổn sư cử thiền sư đến đây làm trụ trì. Sau đó, các Hòa thượng lại cử thiền sư đến trụ trì chùa Sắc tứ Khánh Vân (nơi đang thờ nhục thân của Hòa thượng Phổ Sái).Thời gian này chiến tranh tại Việt nam đã bắt đầu và đang tiếp diễn[6], ngài lại được Hòa thượng Giác Mẫn cử về trụ trì chùa Long Sơn nằm dưới chân núi nhưng ngài không nhận chức vị trụ trì, chỉ xin được ở trong chùa như một vị tăng sĩ bình thường và chuyên tâm hành đạo. Tại chùa Long Sơn, hàng ngày ngài lấy việc tụng kinh, bái sám và hành thiền làm thời khóa chính. Trong thời gian này ngài cũng thường xuyên nhập thất để tọa thiền và niệm Phật, không giao tiếp với bất cứ ai. Khi nào chùa có việc gì quan trọng thì viết giấy gởi vào cho ngài. Tình hình chiến sự tại Việt nam ngày càng phát triển và nhận thấy chùa Long Sơn không phù hợp với việc tu học của mình nên cuối cùng ngài xin về thất Khánh Thọ. Tại đây, ngài nhập thất, hàng ngày tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền, chỉ ăn mỗi ngày một bữa vào giờ ngọ, do thị gỉa mang vào thất cúng ngài. Trong thời gian cư ngụ tại chùa Long Sơn ngài thường xuyên nhập thất nhưng lại giúp về mặt phong thủy cho rất nhiều chư tăng, Phật tử Việt cũng như Thái xây dựng chùa hoặc nhà. Ngài chỉ ở trong thất, ghi trên giấy phương hướng hợp với tuổi tác xây dựng v.v... Đây là điều hiếm có nên chư tăng và Phật tử cho rằng ngài đã chứng qủa A la hán. Sau khi ngài viên tịch một tuần, da thịt của ngài không đông cứng lại mà vẫn mềm mại như người đang sống, trong tư thế ngồi chắp tay niệm Phật. Do đó các đệ tử của ngài dùng dây cột vào bụng ngài để giữ thăng bằng, giúp cho nhục thân ngài có thể ngồi bền vững[7], sau đó đóng một quan tài hình trụ để quàn nhục thân của ngài tại thất Khánh Thọ. Hai năm sau khi mở quan tài hình trụ ra để nhập tháp thì thấy nhục thân của ngài vẫn còn nguyên vẹn trong tư thế ngồi chắp tay niệm Phật. Phật tử xa gần đến đảnh lễ và biết ngài đã đắc qủa nên thờ nhục thân của ngài tại tổ đường thất Khánh Thọ cho tới ngày nay.”

Theo hai nguồn tư liệu trên, thiền sư Hổ Phách tuy sanh ở Thái lan nhưng nói thông thạo tiếng Việt. Chỉ muốn chuyên tâm hành đạo nên tuy được cử làm trụ trì nhiều ngôi chùa nhưng ngài đều từ chối, cuối cùng chọn thất Khánh Thọ làm nơi hành đạo và viên tịch tại đây. Nhục thân của ngài ngày nay được phủ một lớp vàng bên ngoài[8] có lẽ do phần bụng bị hư hoại. Nhưng điều đặc biệt, tư thế ngồi của ngài hoàn toàn khác thế ngồi của các nhục thân mà chúng ta biết được. Nhục thân của các vị cao tăng chúng ta biết được từ trước đến nay ngồi theo tư thế thiền định kết già hoặc bán gìa. Còn thế ngồi của thiền sư Hổ Phách là niệm Phật chắp tay. Như vậy, ngài viên tịch trong khi đang niệm Phật. Nói cách khác, ngài vãng sanh trong khi đang niệm Phật.


[1] Tên chữ Hán của thất Khánh Thọ là Khánh Thọ đường. Tuy nhiên, ngày nay cũng trở thành chùa. Nhưng để phân biệt với chùa Khánh Thọ nơi ngài Hổ Phách xuất gia, chúng tôi gọi nơi tôn thờ nhục thân của ngài là thất Khánh Thọ.

[2] Chùa Khánh Thọ nếu nói đủ là Sắc tứ Khánh Thọ tự, thuộc tỉnh Kanchanaburi nhưng cách thất Khánh Thọ (nơi thờ nhục thân của ngài Hổ Phách )khoảng 30 km.

[3] Hòa thượng Bạch Ngọc có hình thờ tại chùa Khánh Thọ và theo bài vị ghi tại Tổ đường thì Hòa thượng Bạch Ngọc thuộc đời thứ 43 của Tào Động tông. Do vậy, ngài Hổ Phách thuộc đời 44 của Tào Động tông.

[4] Chỉ cho các ngôi chùa Việt Nam (Bắc tông) tại Thái Lan. Ngày nay thống kê có 17 ngôi chùa nhưng không còn vị trụ trì nào là người Việt.

[5] Chùa Hội Khánh trước kia gần con sông Chaophraya của Bangkok. Theo lời của Hòa thượng trụ trì chùa Cảnh Phước thì đa số các ngôi chùa Việt nam xây dựng trên Thái lan đều nằm gần những con sông (chùa Khánh Thọ cũng nằm gần sông)để có thể liên lạc với chính quyền Việt nam thời xưa và có thể báo tin tức cho đất nước về tình hình chính trị thời chiến tranh.

[6] Có lẽ là các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp.

[7] Chính vì điều này mà sau này phần bụng của ngài bị hư hoại hết, không còn nguyên vẹn. Nhìn vào tấm hình chụp nhục thân của ngài ba năm sau khi viên tịch sẽ thấy phần bụng của ngài không còn nguyên vẹn.

[8] Trong khi nhục thân của Hòa thượng Phổ Sái tại chùa khánh Vân thì còn được giữ nguyên theo trạng thái nguyên thủy tức không phủ vàng như nhục thân thiền sư Hổ Phách, không phủ lớp sơn như nhục thân của hai ngài Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường ở Việt nam.



NHỤC THÂN CHÙA KHÁNH VÂN

Lâu nay, khi nói đến sự để lại nhục thân của các vị thiền sư Việt Nam sau khi viên tịch, không ai lại không biết đến nhục thân của hai vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường tại chùa Đậu thuộc tỉnh Hà Tây, Việt Nam. Nhưng có lẽ ít ai biết đến nhục thân của một vị danh Tăng gốc Việt nam đã để lại nhục thân của mình tại một ngôi chùa Việt Nam ở Thái Lan. Đó là nhục thân của Hoà Thượng Thích Phổ Sái trụ trì chùa Khánh Vân. Dựa trên những tài liệu hiện còn lưu giữ ở chùa, người viết xin được giới thiệu đến độc giả một số thông tin về quá trình tu học và hành đạo của Ngài.

Hoà Thượng Thích Phổ sái, Pháp danh Giác Lượng, thế danh Krung Maturotsakung. Ngài sinh vào giờ Tý, ngày mồng 9 tháng 8 năm 2443 B.E (1900) tại Bangkok, Thái Lan. Trong sử sách không thấy ghi rõ về gia đình cũng như những thông tin về gia phả của Ngài. Chỉ thấy ghi lại tên Cha va Mẹ rất đơn giản mà không thấy đề cập đến Cha và Mẹ của Ngài họ gì ? Sách chỉ ghi lại Cha tên Cuôi và Me tên Năng Thẹp. Sỡ dĩ thông tin Gia phả trong gia đình của Ngài không được ghi chép chi tiết cụ thể, do có thể trước đây người viết lại sử liệu này là người gốcThái. Vì vậy khi gặp những thông tin về họ tên của người Việt nam, ít nhiều sẽ gặp khó khăn và lung túng. Một khi phát âm không rõ ràng, từ đó dẫn đến việc chú âm họ tên (Việt – Thái) cũng không được chính xác. Tuy nhiên, căn cứ vào những thông tin như tên của Cha và mẹ, bức chân dung của Ngài lúc còn trẻ, cũng như qua việc Ngài đến xuất gia ở ngôi chùa Việt . . . chúng ta có thể khẳng định được Ngài là người gốc Việt. Chính bởi xuất thân trong gia đình có truyền thống Phật Giáo Việt Nam, cũng như trong tâm trạng của những người con sống xa quê hương, nên việc gia đình cho phép Ngài đến xuất gia ở ngôi chùa Việt nam cũng là điều dễ hiểu. Vì qua đó ít nhiều họ sẽ cảm nhận được sự ấp ám va an ủi phần nào trên đất khách quê người.

Với truyền thống hiếu đạo của Đất nước Phật Giáo Thái Lan, người con trai phải trãi qua một giai đoạn xuất gia ở chùa. Thời gian lâu hay ngắn tuỳ theo phát nguyện của mỗi gia đình cũng như bản thân của người con khi phát nguyện xuất gia. Đây được xem là một hình thức trả hiếu đối với cha mẹ. Cùng trong truyền thống đó, năm 2456 B.E (1913) Ngài phát nguyện đến xin xuất gia ở chùa Hội Khánh (Wat Mongkornsamakom) do Hoà Thượng Thích Mật Ngôn làm Thầy Bổn Sư thế phát. Lúc đó Ngài vừa tròn 12 tuổi . Sau 1 năm xuất gia trả hiếu xong, Ngài đã xin Thầy được hoàn tục. Tuy hoàn tục, nhưng Ngài vẫn tiếp tục sống trong chùa với hình thức là một cư sĩ phật tử thuần thành. Hằng ngày phụ giúp những công việc chấp tác trong chùa, cũng như chăm sóc hầu cận Thầy. Trong suốt gần 7 ở chùa, lời kinh tiếng kệ sớm tối đã dần thấm nhuần và Ngài đã thật sự hiểu rõ về lý tưởng và tâm nguyện của một người xuất gia. Nên đến năm 20 tuổi, Ngài đã xin Thầyï được xuất gia trở lại và được thọ Đại giới vào ngày 20 tháng 5 năm 2464 B.E (1921) dưới sự chứng minh và truyền giới của tam sư là Hoà Thượng Thích Mật Ngôn, Hoà Thượng Thích Diệu Lý và Hoà Thượng Thích Thục Trí [1] .

Năm 2469 B.E (1926) Ngài chính thức được bổ nhiệm đến làm trụ trì chùa Khánh Vân, ngôi chùa đã gắn liền với Ngài suốt một cuộc đời hành đạo. Chùa Khánh Vân (Wat Upai Ratchabumrung), một trong 17 ngôi chùa Việt Nam tại Thái lan thuộc hệ phái Phật Giáo Annam Nikaya, mà người Thái vẫn quen gọi là Annam Nikai (nghĩa là Annam Tông), toạ lạc tại số 864 Charoenkrung, Taladnoi, Sampantawong, Bangkok, 10100 Thailand. Theo sử liệu ghi lại cho đến ngày hôm nay, Chùa đã trãi qua 6 đời trụ trì. Hoà thượng Thích Phổ Sái là vị trụ trì đời thứ 4 từ năm 2469 - 2501 B.E [1] (1926 – 1958), thuộc dòng thiền Lâm Tế chánh tông đời thứ 42. Trong một khoảng thời gian dài làm trụ trì Ngài đã tiếp nối sứ mạng của các Bậc Thầy đi trước, ra sức xiển dương Phật Pháp, cũng như trùng tu và xây dựng chùa chiền. Vốn tư chất rất thông minh, hiền từ và độ lượng nên Ngài đã cảm hoá được rất nhiều tín đồ Phật tử cả người Việt cũng như người Thái. Do vậy mà được rất nhiều người biết đến. Không những thế, trong Sơn Môn , Ngài được chư Tăng trong Annam Tông cảm kích, tín nhiệm và suy tôn Ngài đảm nhận vai trò lãnh đạo trong Giáo hội Phật Giáo Annam Nikaya trong suốt nhiều nhiệm kỳ. Với cương vị là những người lãnh đạo Giáo hội phật Giáo Annam Tông, Ngài hết mình tận tụy trong mọi công việc phật sự, với tâm nguyện làm tốt vai trò kế thừa và phát triển tông phái. Trong tinh thần tuỳ duyên bất biến, bất biến tuỳ duyên của Đạo Phật, Ngài đã khéo vận dụng những phương tiện hoá đạo khác nhau để có thể phát triển tông phái một cách hài hoà trên mảnh đất Thái Lan, một đất nước vốn có truyền thống Phật Giáo Nam truyền mấy nghìn năm. Chính bởi yếu tố kết hợp hài hoà giữa Phật Giáo Đại thừa và Phật Giáo Theravada, mà hệ phái Phật Giáo Annam Tông đã dần chiếm được sự ưu ái của nhiều người dân Thái lan.

Nhận thấy thế duyên đã mãn, sau khi sắp xếp mọi công việc Phật sự trong Giáo hội, cũng như di huấn lại những gì cần thiết cho các vị đệ tử của mình, Ngài đã viên tịch vào lúc 21h 15 ngày 21 tháng 4 năm 2501 B.E (1958), trụ thế 58 đời và 37 hạ lạp [1]. Sau khi viên tịch Ngài đã để lại Nhục thân còn nguyên vẹn trong tư thế kiết già tĩnh toạ. Đây là điều vô cùng đặc biệt mà xưa nay người dân Thái lan ít ai biết đến. Vì vậy, sự để lại nhục thân của Hoà thượng Phổ Sái có thể nói đã để lại trong lòng người dân Thái Lan một sự kính ngưỡng vô hạn. Đến ngày nay Nhục thân của Ngài vẫn còn lưu giữ nguyên vẹn và được tôn thờ tại Tổ đường chùa Khánh Vân.

Trong những tháng ngày đang học tại Thái lan, người viết được nhân duyên đến ở tại ngôi chùa Khánh Vân này. Đây được xem là một trong những ngôi chùa Việt nam được xây dựng và hình thành sớm nhất tại Bangkok, Thaland dưới hình thức sinh hoạt của hệ phái Phật Giáo Annam Nikaya [1]. Như chúng ta cũng biết, Annam Tông là một hệ Phái Phật Giáo đã được chư vị Tổ Sư Việt Nam khai sáng và hình thành trên đất nước Thái Lan. Thông qua hình thức của hệ Phái này, những nét văn hoá, truyền thống của Phật Giáo Việt Nam đã phần nào được giới thiệu rộng rãi đến người dân Thái. Hình ảnh sáng ngời của chư vị Tổ Sư trong những ngày đầu truyền đạo như Hoà Thượng Thích Chân Hưng, Hoà thượng Thích Bảo Ân, Hoà Thượng Thích Mật Ngôn .. . và đặc biệt qua sự để lại nhục thân của Hoà Thượng Thích Phổ sái đã mang đến cho người dân Thái lan những hiểu biết hơn về Phật Giáo Việt nam. Khi biết nơi đây hiện đang còn lưu giữ và tôn thờ Nhục thân của một vị Hoà Thượng gốc Việt, người viết cố gắng tìm hiểu về nguồn gốc của Ngài với mong muốn giới thiệu đến mọi người cùng biết. Do vậy đã cố gắng tìm tòi nghiên cứu những sử liệu hiện đang lưu giữ trong chùa, cũng như tra cứu các bia ký, long vị, hình ảnh và qua một số thông tin kể lại của những vị Hoà Thượng thuộc Hệ phái Annam Tông hiện nay, để tìm ra những thông tin tương đối khả dĩ nhất. Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, người viết nhận thấy còn rất nhiều hạn chế. Bởi nguồn sử liệu về Annam Tông rất ít, nhất là những ghi chép về quá trình truyền thừa của chư vị Tổ Sư cũng như các vị Hoà Thượng trong tông phái còn rất sơ sài. Hơn nữa, các vị trụ trì sau này dường như không mấy quan tâm đến vấn đề ghi chép mang tính sử liệu. Ngay cả việc công bố hay giới thiệu về nhục thân của Hoà thượng Phổ Sái đến công chúng cũng mang tính nội bộ.

Ai đã một lần có duyên đến chiêm bái nhục thân của Hoà thượng Phổ Sái có lẽ sẽ cảm nhận được sự mầu nhiệm thiêng liêng khó diễn tả thành lời. Trong những chuyến hành hương của Chư Tăng Ni cũng như Phật tử trong nước và hải ngoại đến Thái Lan, khi nghe tin có nhục Thân của một vị Hoà thượng Gốc Việt còn lưu lại, ai cũng háo hức mong muốn được đến đó để xem thực hư như thế nào . Trước hương án Tổ đường chùa Khánh Vân, chúng tôi đã chứng kiến không biết bao lần những dòng lệ xúc động nghẹn ngào của chư Tăng Ni Phật tử khi được thành kính đảnh lễ Nhục Thân của Ngài. Qua đó, chúng tôi mới cảm nhận một cách sâu sắc về những giá trị tâm linh cội nguồn. Dù ở phương trời nào đi nữa thì những giá trị ấy luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc và ấm áp trong lòng những người con Phật Tử Việt nam. Bởi lẽ, khi đề cập đến nhục thân của quý Ngài, chúng ta không thể đo lường bằng những thước đo vật chất, mà nơi đó chứa đựng những giá trị tâm linh mầu nhiệm. Giá trị ấy là bằng chứng trung thực nhất để tô điểm cho một cuộc đời hành đạo và chứng đạo. Đối với các nhà khoa học, điều đó đã tạo nên cho họ không biết bao sự ngạc nhiên lẫn thán phục. Dẫụ đã trãi qua bao công trình nghiên cứu khoa học nhằm tìm ra một công thức tương đối nhất. Nhưng tất cả vẫn đang còn là một ẩn số. Điều đó đã là một minh chứng hùng hồn nhất trong lịch sử tu chứng của các vị Thiền sư việt nam.

Qua bài viết này, người viết không chỉ nhằm giới thiệu đến Phật Tử Việt Nam chúng ta biết thêm về Nhục Thân của Hoà thượng Thích Phổ sái, một vị danh Tăng gốc Việt, đã có công lao rất lớn trong việc duy trì và phát triển hệ phái Phật Giáo Annam Tông, mà mong muốn có được sự quan tâm nhiều hơn đến một hệ phái Phật Giáo Việt Nam đã và đang có mặt trên đất nước Thái lan trong suốt thời gian gần 300 năm qua. Qua đó, hy vọng sẽ mang lại cho phật giáo việt Nam cũng như Phật Giáo Thái lan những nét khởi sắc trong tiến trình hội nhập và phát triển văn hoá phật giáo giữa hai quốc gia ngày càng tốt đẹp.

No comments: