Thursday, May 28, 2009

CON ĐƯỜNG ĐẠO (8) Bách Linh- GHPGVNTN- ND CKV



video

Xin bấm vào PLAY đẻ nghe âm thanh


CON ĐƯỜNG ĐẠO (8)

Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!"


Bách Linh

oo0oo

21. Dùng tôn giáo thay cho đảng phái chính trị để kềm giữ người Việt

Sự xử dụng đức Tin và tôn giáo để đoàn ngũ hóa, "kiểm soát và điều khiển tư tưởng" (mind control) đã trở thành một khoa học tinh vi. Các cán bộ "thầy" chỉ huy điều hành mặc áo cà sa, "tận tâm" hướng dẫn, dìu dắt, nhồi sọ các đoàn viên, đoàn sinh, đệ tử, miệng luôn luôn nói những lời đạo đức giả. Chúng mê hoặc mọi người "đồng đạo" và đệ tử, đoàn sinh, đoàn viên tới mức chúng nói gì, ra lệnh gì, họ đều răm rắp nghe, không ai dám cưỡng lại, và cũng không thể bỏ trốn hay bỏ cha.y.

Thủ đoạn thông thường của bọn ma giáo, ma quỷ là chúng dùng cò mồi để khéo léo, tâng bốc, vỗ tay. Các "thầy" thường dùng vài ba chục đệ tử để vỗ tay mỗi khi "thầy thuyết pháp". Khi "thầy" vừa dứt câu là bọn đệ tử cò mồi vỗ tay vang dội, nồng nhiệt, khiến cho cả hội trường vỗ tay theo. Những người mới đến để nghe ngóng xem sao, thấy chấn động và dễ bị lôi cuốn theo. Chắc "thầy" phải nói hay lắm, hấp dẫn lắm nên mới có nhiều người vỗ tay hoan nghênh như vậy!

Tại Việt Nam thì ta thấy hiện tượng "tranh đấu" xuống đường, biểu tình, tự thiêu... do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức để đánh phá chính quyền quốc gia từ 1963 đến 1975, cũng là một hình thức đoàn ngũ hóa và điều khiển tư tưởng đám đông. Những bài báo viết lách cũng nhằm mục đích nhồi sọ đám đông và thanh thiếu niên, thế hệ trẻ, một cách từ từ và đồng thời bóp méo lịch sử.

Từ năm 1992, bọn tăng ni quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang vẫn tiếp tục hoạt động Cộng sản, vẫn chửi các chính quyền quốc gia, vẫn chửi Tổng Thống Diệm và công giáo, vẫn khéo léo khoe khoang thành tích Cộng sản.

Nhìn kỹ hoạt động của bọn tăng ni quốc doanh, ta thấy chúng đang "tẩy não" cả nước bằng cách bóp méo lịch sử Việt Nam cho lẫn lộn với lịch sử Phật giáo Cộng sản của chúng. Thích Quảng Độ, Thích Trí Siêu và Thích Tuệ Sỹ đang được bộ máy tuyên truyền quốc doanh hải ngoại đề cao, cũng là do công tác bóp méo lịch sử để tẩy não cả nước Việt Nam. Chúng chỉ nói rằng sư tăng Phật giáo đã mở nước, dựng nước từ Luy Lâu xuống đến Hà Nội, Huế, Sài Gòn, từ hơn 2 ngàn năm trước. Chúng không dám nói rằng Phật giáo là "ngoại lai" xuất xứ từ Ấn Độ cũng giống như đạo Nho, đạo Lão và Thiên Chúa giáo ngày nay. Mỗi người đều có tự do tín ngưỡng. Nhưng bọn ma giáo quốc doanh GHPGVNTN cố tình xử dụng tôn giáo để bóp méo lịch sử, tự nhận là "mở nước, dựng nước", phủ nhận luôn cả tổ tiên Hồng La.c.

Ngoài GHPGVNTN Ấn Quang, ta thấy các hiện tượng nhân điện và vô thượng sư sú ma (supreme master) đã làm cho nhiều người phải khánh tận vì dâng hiến tài sản cho chúng, nghe chúng nói láo bịp bợm, và gia đình tan nát. Ta cũng thấy những văn nghệ sĩ, báo sĩ, đài sĩ, trí thức, khoa bảng, tai to mặt lớn cũng khúm núm trước mặt "thiền sư vén váy". Có vị chỉ cần thấy tí tiền còm là bán rẻ ngay danh dự và linh hồn sẵn sàng tôn "thiền sư vén váy" lên làm "phật sống"!

* * *

22. Hoạt động chính trị Cộng sản của Gia Đình Phật Tử trong tương lai.

Tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPTVN) chỉ là một tổ chức "ngoại vi" (satellite) của GHPGVNTN. Ngày nay GHPGVNTN bị kẹt cái tên "quốc doanh" do nhân dân đặt cho, nên phải dùng GĐPTVN làm mũi nhọn chính trị với mưu đồ "đoàn ngũ hóa" các tầng lớp dân chúng, phật tử, lấy Phật giáo làm bình phong hay là nòng cốt lý thuyết. Từ căn bản này, chúng sẽ điều khiển tư tưởng nhân dân cả nước, kể cả báo chí truyền thông, bằng các thủ đoạn "tranh đấu" để xách động quần chúng.

Khi tổ chức GĐPT đủ lớn mạnh ở tầm mức quốc gia, bọn ma đầu quốc doanh sẽ yêu sách, đòi hỏi, xuống đường tranh đấu, khích động những người trẻ tuổi thanh niên và dân chúng tham gia thật đông đảo. Miệng chúng hô to rằng bị đàn áp, "Pháp nạn" với "Mạt Pháp". Chúng khuyến khích các đoàn viên thanh niên trẻ tuổi hăng hái "tử vì đạo" bằng tự thiêu, liều mạng chống cảnh sát, rồi làm "cách mạng". Có khi chúng dàn cảnh "đốt" người rồi hô rằng nạn nhân đã "tự thiêu" và đổ tội cho chính quyền đàn áp tôn giáo, cấm đoán tự do tôn giáo.

Chúng có thể cho các thiếu nhi đi đầu các đám biểu tình. Lỡ có một trẻ nhỏ bị chết, hoặc chúng dàn cảnh cho chết, thì chúng sẽ thổi phồng lên rằng chính quyền, cảnh sát đàn áp, giết trẻ nhỏ để gây công phẫn, căm thù trong dân chúng, phật tử. Thiếu nhi, thiếu niên nào bị chết thì chúng sẽ phong làm "thánh tử đạo" để làm gương cho các thiếu nhi khác bắt chước. Để rồi lại tiếp tục tranh đấu, xuống đường với nhiều "thánh tử đạo" nữa.

Dân chúng dễ bị lung lạc, sẽ hùa theo chúng thành dư luận chống đối chính quyền. Bọn ma giáo quốc doanh sẽ tổ chức đình công, bãi thị, xuống đường biểu tình đánh phá, khích động cảnh sát phải dẹp biểu tình. Khi cảnh sát dẹp biểu tình, chúng sẽ bạo loạn, chống lại và gây thương tích, đổ máu. Rồi chúng sẽ hô hoán rằng chính quyền đàn áp "dã man" và kêu cứu với quốc tế... cho đến khi thành một phong trào và dư luận chống đối bao trùm cả nước, rồi lan rộng sang đến quân đội, cảnh sát, công chức...

Chúng sẽ liên minh, liên kết với các đoàn thể, hội đoàn, tổ chức hay đảng phái khác qua hình thức dọa nạt, lôi kéo, khủng bố tinh thần, hoặc dụ dỗ dối trá rằng sẽ chia ghế, chia phần... Với các phương tiện và thủ đoạn tuyên truyền bịp bợm và lưu manh sẵn có, chúng sẽ làm cho báo chí quốc tế và dư luận thế giới xúc động, hùa theo chúng, bênh vực chúng...

* * *

Vấn đề bọn ma đầu đoàn ngũ hóa và kềm kẹp con người, cá nhân, trong tổ chức hay đảng phái thường rất tinh vi, thâm đô.c. Bọn ma đầu chính trị, ma giáo quốc doanh thường dùng những danh từ, danh xưng có vẻ hiền lành "vô tội" như Gia Đình Phật Tử, Tăng Đoàn Bảo vệ Chánh Pháp, khiến không ai có đủ lý do hành chính hay chính trị để cấm cản hay ngăn chặn chúng hoạt đô.ng.

Nếu không trình bày rõ ràng những cạm bẫy của bọn ma giáo quốc doanh này thì rất nhiều người trẻ tuổi sẽ bị mắc vào lưới nhện ma quỷ của chúng. Các phụ huynh dễ vô tình khuyến khích con em gia nhập các đoàn thể, tổ chức với danh xưng có vẻ hiền lành, vô ha.i. Một khi đã mắc vào mạng lưới nhện "đoàn ngũ hóa" thì bản tính cá nhân thay đổi rất nhanh. Đảng viên, đoàn viên, hội viên, tín đồ, phật tử đều mau trở thành cuồng tín, quá khích, say mê, bị mê hoặc và không còn suy nghĩ sáng suốt. Các phụ huynh vì thờ ơ không chú ý, đã có thể "mất con" cho bọn ma quỷ lợi du.ng.

Từ năm 1992, thấy không thể xóa bỏ cái tên "quốc doanh" và sự hợp tác "tuy hai mà là một" của GHPGVNTN. Từ năm 1998 danh xưng GĐPTVN là tổ chức gốc.

Tại miền Nam và hải ngoại GHPGVNTN tổ chức nhiều đơn vị GĐPT và tên GĐPT Long Hoa. GĐPT miền Thiện Minh, GĐPT Miền Quảng Đức, GĐPT Chánh Pháp, Chánh Tín, Pháp Bảo, Pháp Hoa, Ấn Quang, Vạn Hạnh v.v... Các đơn vị GĐPT đã trở thành một mạng lưới nhện khắp nước Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới để thu gom các thiếu niên, thiếu nhi phật tử, để giáo dục, nhồi sọ, tẩy não và huấn luyện (Indoctrination Ờ brainwash) chúng trở thành những phật tử có tinh thần hăng say, cuồng tín và sẵn sàng "tử vì đạo" cho GHPGVNTN!

Tổng số các đơn vị và đoàn viên GĐPT tại Việt Nam là

-1,496 đơn vị và

-219,000 đoàn viên,

-192,000 đoàn sinh.


Tại Âu Châu

-32 đơn vị,

-1,057 đoàn viên

- 889 đoàn sinh.


Tại Canada

-10 đơn vị,

-650 đoàn viên

- 600 đoàn sinh.


Tại Úc Châu

-10 đơn vị,

- 650 đoàn viên

- 600 đoàn sinh.


Tại Hoa Kỳ

- 58 đơn vị,

- 6,850 đoàn viên và

- 6,500 đoàn sinh.

Tổng cộng có-1606 đơn vị, 27,655 huynh trưởng GĐPT tại Việt Nam và trên thế giới. Nhưng đây cũng là một bằng chứng các đơn vị của tổ chức GĐPT thuộc GHPGVNTN vẫn được Cộng sản cho phép hoạt động công khai trong nước, trong Mặt Trận Tổ Quốc, trong vấn đề đào tạo thiếu nhi phật tử trở thành một thứ cán bộ Cộng sản kiểu mới, trá hình.

Các cư sĩ quốc doanh đã lầm lẫn khi khoe rằng Lê Đình Thám đã tổ chức Gia Đình Phật Tử từ năm 1935 và chết năm 1969. Thật ra thì Lê Đình Thám, một cán bộ Cộng sản loại trung kiên, từng là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Liên Khu 5 của Cộng sản Việt Minh, đã tổ chức Gia Đình Phật Tử rập khuôn theo tổ chức hướng đạo từ năm 1945, và bao gồm luôn cả gia đình, anh chị em của các thiếu niên phật tử. Thám chết năm 1979. Cộng sản tổ chức giáo hội Phật Giáo Cứu Quốc và Gia Đình Phật Tử. Người ngoài thấy thì tưởng rằng Cộng sản cho tự do tín ngưỡng. Không ai ngờ Cộng sản chỉ dùng Phật giáo làm chiêu bài, vỏ ngoài, bình phong. Thực chất thì cán bộ giả làm tăng ni lãnh đạo để đoàn ngũ hóa và điều khiển tinh thần tư tưởng của phật tử và thanh thiếu niên.

Cuốn sách GĐPT Việt Nam công khai khoe mục đích chính là "đoàn ngũ hóa" các gia đình và thanh thiếu niên phật tử để đưa họ vào những mục tiêu chính trị và đấu tranh đổ máu cho chúng. Chúng nêu lên những gương tranh đấu, tự thiêu, thánh tử đạo với những tên Nhất Chi Mai, Quách thị Trang, Thích Quảng Đức, Thích Tiêu Diểu, Thích Thanh Tuệ, Thích Nguyên Hương, ni cô Diệu Quang, Thích Quang Hương, Thích Thiện Mỹ... của thời tranh đấu đánh phá các chính quyền quốc gia từ 1963 đến 1975 để cho thanh thiếu niên phật tử tiêm nhiễm và noi theo làm một thứ "anh hùng quốc doanh" hay "thánh tử đạo quốc doanh"!

Chúng bịa đặt ra hai câu "thơ" khuyến khích tử đạo và nói rằng của sư Thích Quảng Đức:

Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình

Làm đèn soi sáng nẻo vô minh!

Trong cuốn sách, bọn tăng ni và cư sĩ quốc doanh công khai tôn vinh những khuôn mặt Cộng sản như Tố Liên, Đôn Hậu, Minh Châu, Nhất Hạnh, Trí Quang, Trí Thủ, Huyền Quang, Thiện Hoa, Tâm Giác, Trí Tịnh, Thiện Minh, Thiện Siêu... Chúng gọi giai đoạn 1963-1975 mà GHPGVNTN nằm vùng đánh phá các chính quyền quốc gia miền Nam và đón Cộng sản vào chiếm miền Nam năm 1975, là "Thời Kỳ Dấn Thân và Tái Ổn Định 1963-1975".

Thích Tố Liên (1903 - 1977)

Hòa thượng tên đời là Nguyễn Thanh Lai, sinh năm 1903 (Quý Mão) tại làng Quỳnh Lôi, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc quận Hai Bà Trung, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình Nho học, thân phụ là cụ Nguyễn Văn Định và thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Đào.

Thích Đôn Hậu thế danh là Diệp Trương Thuần, sinh năm Ất Tỵ (1905) quê quán ở làng Xuân An, tổng An Đồn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, Quảng Trị). Diệp Trương Thuần có pháp danh là Trừng Nguyên, pháp hiệu là Đôn Hậu nên thường gọi là Hòa thượng Thích Đôn Hậu.


ht-minhchau.jpg (11432 bytes) Hòa thượng Thích Minh Châu,
ảnh chụp tháng 10/1999

Thích Minh Châu (sinh năm 1920 tại Quảng Nam) là một hòa thượng người Việt Nam. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Từ năm 1964 đến năm 1975, ông về lại Việt Nam giữ chức vụ viện trưởng ViệnĐại học Vạn Hạnh,

Thich Nhat Hanh in Paris in 2006

sinh ra ở Thừa Thiên-Huế (miền Trung Việt Nam) vào ngày 11 tháng 10 năm 1926, xuất gia theo Thiền tông vào năm 16 tuổi, trở thành một nhà sư vào năm 1949.Ông cũng là người thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn trước năm 1975.


Thích Huyền Quang, thế danh Lê Đình Nhàn, (19 tháng 9 năm 1920[1]5 tháng 7 năm 2008), là vị tăng thống thứ tư của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.


THÍCH TRÍ THỦ
(1909 - 1984)

họ Nguyễn, húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngài sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (Nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu.


Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.


Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917-1973 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.

Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.

Thích Trí Tịnh Nguyễn văn Bình, pháp danh Thiện Chánh, pháp tự Trí Tịnh, đạo hiệu Hân Tịnh, người miền Tây Nam Việt, sanh năm Ðinh Tỵ (1917) tại làng Mỹ An Hưng (Mương Chùa, Cái Tàu Thượng), huyện Lấp Vò, hạt Sa Ðéc; vốn dòng dõi gia giáo

Ông Nguyễn Minh Triết,tặng Huân chương Độc lập cho Hòa thượng là Nhà nước bày tỏ sự đánh giá cao về những công lao to lớn của Hòa thượng đối với GHPGVN và đối với dân tộc. Đảng và Nhà nước

Thích Thiện Minh (1922-1978), thế danh Đỗ Xuân Hàng, là một tu sĩ Phật giáo Việt Nam và một vị lãnh đạo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.Ông quê ở Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, xuất gia năm lên 10. Ông được tuyển là một trong số học viên đầu tiên trường An Nam Phật học do hòa thượng Mật Khế thành lập năm 1934. Mười năm sau khi xong bằng đại học Phật giáo thì chính trường biến động, Nhật đảo chánh PhápĐông Dương. Ông tham gia Ủy ban Phật giáo Cứu quốc tại Quảng Trị

Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa ông tranh đấu đòi bình đẳng tôn giáo. Với sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ông được tuyển làm Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Tổng vụ trưởng Vụ Thanh niên trông coi các tổ chức như Gia đình Phật tử, Hướng đạo Phật giáo, trung tâm Quảng Đức v.v. Trong những cuộc xung đột với chính phủ do các tướng Nguyễn Cao KỳNguyễn Văn Thiệu lãnh đạo, ông được cử làm đại diện Giáo hội. Sau một cuộc đàm phán năm 1966 ông suýt bị ám sát bằng lựu đạn nhưng chỉ bị thương nhẹ.

Sang thập niên 1970 ông giữ chức cố vấn Viện Hóa Đạo. Năm 1978 ông bị Cộng Sản Việt Nam bắt giam rồi mất trong tù. Theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất[1] thì ông bị ép treo cổ tự tử.

htts.jpg (30455 bytes)

Thành Viên Hội Đồng Chứng Minh
Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni toàn Quốc
Viện Trưởng Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành phố Huế
Trú Trì Tổ Đình Từ Đàm và Thiền Tôn – Huế

họ , húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tự Trí Đức, hiệu Thích Thiện Siêu. Hoà thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình thâm tín Phật giáo nhiều đời, ở làng Thần Phù, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Thân phụ là Cụ ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hoà thượng là con trưởng trong một gia đình gồm có 5 anh em: 3 trai và 2 gái. Người em kế của Ngài cũng noi theo chí nguyện của anh mình và xuất gia, đó là Cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Lâm Đồng, trú trì chùa Phước Huệ – Bảo Lộc.

Năm 1962, Ngài lại trở về Huế để giảng dạy cho Tăng Ni ở Phật học đường Báo Quốc và Ni viện Diệu Đức, cũng như tham gia các Phật sự tại Tổng trị sự Phật giáo Trung phần và Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên - Huế.

Trong suốt thời gian Ngô Đình Diệm lên nắm quyền tại miền nam đã thực hiện chính sách kỳ thị Phật giáo, bắt giam, tra tấn, thủ tiêu nhiều Phật giáo đồ, dụ dỗ cải đạo, mà đỉnh cao là nhân mùa Phật đản năm 1963, khi chính quyền ra lệnh triệt hạ cờ Phật giáo và thảm sát các Phật tử tại Đài phát thanh Huế, Hoà thượng đã đại diện cho Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên-Huế cùng ký vào "Bản tuyên ngôn của Tăng tín đồ PGVN" gồm 5 điều để phản đối chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo và nói lên thái độ của hàng Phật tử VN là đấu tranh bằng đường lối bất bạo động cho lý tưỡng công bằng xã hội, bình đẵng tôn giáo. Do vậy đêm 20-8-1963, Hòa thượng đã cùng bị bắt giam tại Ty Công an Thừa Thiên, cho đến khi chính quyền Diệm bị lật đổ, Ngài mới được trả tự do.

Từ năm 1964-1974, Hoà thượng được cung cử làm Phó đại diện Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh; trong thời gian này, Ngài cũng điều hành và giảng dạy lớp Cao đẳng Phật học chuyên khoa Liễu Quán tại chùa Linh Quang – Huế; đó là lớp đào tạo Giảng sư Phật học của miền Vạn Hạnh. Các vị đã tốt nghiệp tại lớp chuyên khoa này đã và đang hành đạo khắp nơi, mà gần gũi với chúng ta như Hòa thượng Thích Thiện Trì, Thích Tịnh Từ, và cố Thượng tọa Thích Thiện Tường .vv.. Đồng thời Hòa thượng còn được mời giảng dạy cho các tòng lâm ở nhiều nơi khác như Đà Nẵng, Nha Trang, Tây Nguyên và Sài Gòn...Mặc dù phải gánh vác nhiều trọng trách, nhưng Ngài vẫn chu toàn các Phật sự được Giáo hội giao phó.

Năm 1965, Hoà thượng được mời khai đạo giới tử tại Đại giới đàn Từ Hiếu – Huế.

Năm 1968, Ngài được cung thỉnh làm Tuyên luật sư và khai đạo giới tử tại Đại Giới đàn ở Phật học viện Hải Đức - Nha Trang.

Năm 1970, Ngài là vị khai đạo giới tử Đại Giới Đàn Vĩnh Gia - Đà Nẵng.

Năm 1973-1974, Hòa thượng được cung cử chức vụ Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức - Nha Trang. Chính trong thời gian này, dưới sự hướng dẫn của Ngài, bộ kinh Trung A-hàm được dịch ra Việt ngữ.

Năm 1979, Hoà thượng Bổn sư là đức đệ nhị Tăng Thống GHPGVNTN viên tịch. Để kế thừa bổn sư, Ngài được môn phái cung thỉnh giữ chức vụ Trú trì Tổ đình Thiền Tôn – Huế.

Năm 1981-1984, Ngài được mời giảng dạy tại Trường Cao cấp Phật học ở chùa Quán Sứ - Hà Nội.

Năm 1982-1988, Hoà thượng được cung thỉnh lãnh đạo Phật giáo tỉnh Phú Khánh liên tiếp trong hai nhiệm kỳ


Lê Đình Thám đã khoe là "thầy" Thích Trí Quang. Lê Đình Thám có một người con trai tên là Lê Đình Duyên làm dân biệu Việt Nam Cộng Hòa. Một người con trai khác tên là Lê Đình Luân. Trước 1975, ông Luân là đại tá Phòng Nhì (Quân Báo) trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi mất miền Nam năm 1975, ông Luân hiểu sự tàn bạo dã man của Cộng sản. Ông đã tự tử nhưng được binh sĩ của ông cứu sống. Sau đó ông bị Cộng sản bắt đi tù học tập cải ta.o.

Năm 1975, Lê Đình Thám (bác sĩ) từ Bắc vào tiếp thu Viện Pasteur ở Sài Gòn. Năm 1977, Thám đến trại cải tạo thăm con trai là ông Luân. Khi biết có bố đến thăm thì ông Luân, một người căm thù và kinh tởm Cộng sản, đã ra gặp Lê Đình Thám. Khi thấy mặt bố, ông Luân quỳ xuống lạy 3 lạy và nói: "Tôi lạy ông 3 lạy để trả ơn nghĩa cha con và để đoạn tuyệt từ đây. Từ nay trở đi, mỗi người một ngả, kể như không còn liên hệ gia đình!" Nói xong, ông Luân quay vào trong tra.i. Nếu chịu nhận họ hàng thì cán bộ Cộng sản cấp cao Lê Đình Thám có thể bảo lãnh cho ông Luân được về sớm. Nhưng đại tá Luân đã không hèn, và không thèm cái thứ ân huệ Cộng sản đó. Đại tá Luân đã bị Cộng sản giam cầm khoảng 15 năm và đã qua Mỹ theo chương trình H.O. Nghe nói các con ông Luân đều thành nhân và thành danh. (Chuyện này do một sĩ quan VNCH cùng học tập cải tạo kể lại).

Từ năm 1998 trở đi, tổ chức quốc doanh của GHPGVNTN có tên là Gia Đình Phật Tử Việt Nam đang được đưa lên sân khấu chính trị hải ngoa.i. Đảng Cộng sản Hà Nội và GHPGVNTN sẽ dùng Gia Đình Phật Tử như một tổ chức chính trị không có cái tên quốc doanh. Nhưng thời thế vào năm 1998 đang biến chuyển quá nhanh trong khi chính đảng Cộng sản đã mất hết quyền hành, không thể chỉ huy được bất cứ ai, và không thể thi hành được bất cứ âm mưu, thủ đoạn chính trị bịp bợm nào.

Thích Trí Quang và tập thể tăng ni GHPGVNTN còn có tham vọng đặt một nền tôn giáo công an trị mà chúng gọi là xây dựng một triều đại giống như nhà Lý ở thế kỷ 11. Nhưng bọn sư hổ mang quốc doanh Cộng sản này có "tu thật" đâu mà đòi bắt chước nhà Lý?

Một số phật tử và cư sĩ trong giai đoạn 1963-1975 và cho đến ngày nay cũng không hiểu những thủ đoạn độc ác, nham hiểm, lưu manh của bè lũ cán bộ Cộng sản núp dưới áo cà sa và tự xưng là tăng ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang và các giáo hội, tổ chức phụ thuô.c.

Hi vọng rằng sau 1975 và ngày nay, mọi người phật tử, cư sĩ đã sáng suốt và hiểu rằng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang và các tổ chức phụ thuộc do cán bộ Cộng sản dựng lên và núp dưới chiêu bài Phật giáo để hoạt động Cộng sản, đoàn ngũ hóa người Việt trong mục đích đánh phá tổ quốc và dân tộc Việt Nam và áp đặt độc tài tôn giáo công an trị. Chúng không bao giờ thay đổi bản chất Cộng sản. Chúng muốn trá hình dưới hình thức "Đạo Phật" với các danh xưng có vẻ hiền lành, Phật giáo. Chúng muốn "biến Đạo thành Đảng" để tiếp tục khống chế dân tộc Việt Nam dưới bàn tay sắt công an trị!

Chúng ta không nên để bọn tăng ni Cộng sản đoàn ngũ hóa con em chúng ta dưới một danh hiệu hiền lành "Gia Đình Phật Tử" để có ngày sẽ làm vật hy sinh, tranh đấu xuống đường, biểu tình, cuồng tín đánh phá ngay quốc gia dân tộc mình, làm "thánh tử đạo", cho những mục đích chính trị đen tối của GHPGVNTN Cộng sản. Dân tộc và chính quyền Việt Nam đương nhiên không thể cho Cộng sản tồn tại dưới bất cứ hình thức, danh xưng nào. Sang thế kỷ 21, mọi hoạt động chính trị và tôn giáo trong nước Việt Nam phải có sự minh bạch, rõ ràng. Không thể có sự mập mờ. Ma quỷ núp trong chùa, trong lớp áo thầy tu, trong bất cứ tổ chức "hiền lành" nào cũng bị tiêu diệt tận gốc.

Chư vị phật tử, cư sĩ cũng nên coi chừng vấn đề nghiệp báo hay là hậu quả. Nếu chư phật tử, cư sĩ phụ họa bênh vực tăng ni quốc doanh Cộng sản thì cũng phải chịu chung nghiệp báo tội ác Cộng sản của chúng, và đó là đạo kiếp vĩnh viễn. Tại sao tu theo Phật mà lại đi cung kính ma quỷ Cộng sản và "lạy thầy xưng con"? Nếu không thể phân biệt ai là Cộng sản, ai không, thì nên tu tại gia và trực tiếp cầu nguyện chư Phật là tốt nhất.

Theo Luật Trời, cũng là luật Nhân Quả, tội ác Cộng sản phải nhân bình phương với khoảng hơn 100 triệu người dân tộc Việt hiện nay và các nạn nhân Cộng sản đã chết trong hơn 50 năm qua, và dội lại thành nghiệp báo đánh vào bè lũ Cộng sản, tăng ni GHPGVNTN và những người hùa theo chúng, bênh vực chúng. Cộng sản phải bị tiêu diệt cũng vì lẽ chúng phải đền trả những tội ác nhân lên gấp trăm triệu lần.

Cái tài tình của người Mỹ là họ đã xử dụng những tên Cộng sản nằm vùng tại miền Nam "làm việc" không lương cho họ. Người Mỹ không cho cảnh sát miền Nam bắt giam bọn này. Trái lại họ còn dung túng, tỏ vẻ hỗ trợ và đồng ý với hoạt động Cộng sản của bọn tăng ni GHPGVNTN. Các báo cáo tốt đẹp và thành công của tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang đã khuyến khích Cộng sản Bắc Việt phải tấn công miền Nam.

Cộng sản Hà Nội đã coi Thích Trí Quang, Thích Huyền Quang, Thích Trí Dũng, Thích Nhất Hạnh, Thích Quảng Độ, Thích Quảng Liên, Thích Minh Châu, Thích Thiện Minh, Ni sư Huỳnh Liên và tập thể tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang ... là lập được công đầu khi chiếm xong miền Nam năm 1975.

* * *

No comments:

There was an error in this gadget