Tuesday, June 9, 2009

Nguyễn Khoa Điềm, từ thảm sát Mậu Thân tại Huế tới làm tay sai cho Trung Cộng-Hồ Đinh

http://vietimes.com.vn/vn/nhietkevanhoa/3855/index.viethttp://www.tienphong.vn/Tianyon/PrintView.aspx?ArticleID=133061&ChannelID=7http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/1166/index.aspxhttp://www.baovietnam.vn/van-hoa/10-8-2008/3


Ghi Chú: Chưa có dữ kiện nào xác định Nguyễn Khoa Điềm chết

Nguyễn Khoa Điềm, từ thảm sát Mậu Thân
tại Huế tới làm tay sai cho Trung Cộng tại trung ương đảng

Hồ Đinh

Ngày 30-12-1960, VC thành lập tại Hà Nội cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, dùng làm bình phong, để che đậy ý đồ xâm lược cưỡng chiếm VNCH bằng quân sự. Để hoàn thành giấc mộng nhuộm đỏ toàn cõi VN bằng ý thức hệ Mác-Lê, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản, một mặt bắt các cán binh, bộ đội gốc Miền Nam, đã tập kết ra Bắc năm 1954 phải hồi kết, qua đường mòn Trường Sơn. Số này sẽ kết hợp với các cán binh nằm vùng năm xưa và một vài trí thức địa phương, đang bất mãn chính phủ Ngô Đình Diệm, vì đa số thuộc thành phần địa chủ, thượng lưu có quốc tịch Pháp, mà xí nghiệp, ruộng đất đang bị quốc hữu hóa, theo luật pháp của Quốc Gia VN. Tất cả sẽ dấy lên một phong trào tranh đấu giả tạo, để lật Đỗ chính quyền hợp pháp của Miền Nam, qua kế hoạch ba mặt giáp công là chính trị, binh vận và quân sự của Miền Bắc, quyết tâm chiếm cho được nửa phần đất nước còn lại, từ bờ nam sông Bến Hải (Quảng Trị), vào tới Mũi Cà Mâu.
Cuộc binh biến ngày 1-11-1963 với kết quả đưa VNCH vào tình trạng vô chính phủ và gây nên những xáo trộn chính trị triền miên, suốt những năm 1964-1967. Nắm bắt lấy thời cơ, mà Hồ Chí Minh cho là đã chín mùi tại Miền Nam, nên đầu năm 1964, đảng ra lệnh tập trung các cán bộ Y tế, Giáo dục, Văn hóa Thể dục Thể thao, Nhà văn, Nhà báo, Nông nghiệp, Bưu điện, Tiếp vận... khắp đất Bắc, để học tập, huấn luyện, lên đường vào Nam, tiếp tay với bọn ăn cơm Quốc gia thờ ma cộng sản, đang dấy lên phong trào cướp chính quyền ở Huế, Đà Nẵng, Sàigòn và nhiều thành phố khác. Đợt đó có 300 người bị tập trung tại Trường Huấn Luyện Đặc Biệt ở Phú Thọ, mang tên là Đoàn K-33.
Ngày 22-12-1964 lớp học bế mạc. Tất cả các học viên đều lên đường vào Nam. Để che mắt và lừa bịp công luận quốc tế, mọi người được trang bị như VC chính hiệu ở Miền Nam, với quần áo bằng vải kaki Nam Định, mũ tai bèo may bằng vải rộng vành dép râu Bình Trị Thiên, cổ quàng khăn rằn và ai cũng thuộc bài "Giải Phóng Miền Nam" của Huỳnh Minh Siêng, tức Lưu Hữu Phước, lúc đó cũng đang có mặt tại Cục R ở Nam phần.
Trong số cán bộ trên, hiện còn nhiều người sống sót và được đảng thưởng công rất hậu như Nguyễn Trung Hậu (Bí thư tỉnh ủy Thượng Hải), Trần Ngọc Trác (Chủ tịch tỉnh Thuận Hải), Ngô Triều Sơn (Q.Bí thư tỉnh ủy Bình Thuận), Nguyễn Tường Thuật (Chủ tịch tỉnh Phú Yên)... Ngoài ra còn có các nhạc sĩ, nhà văn như Phan Huỳnh Điểu, Thuận Yến, Lê Anh Xuân, Tô Nhuận Vỹ, Dược sĩ Nguyễn Kim Hùng, Tiến sĩ Võ Quảng, Nguyễn Thới Nhậm... Nhưng lên chức cao nhất, chỉ có Nguyễn Khoa Điềm, được vào Trung ương đảng VC khóa IX năm 2001, đứng hàng 15 trong Bộ chính trị và hàng thứ 5 trong Ban bí thư trung ương.
Qua bài thơ "40 Năm Gặp Lại" đăng trong tờ Xuân Ất Dậu 2004 của VC. Bình Thuận, Nguyễn Khoa Điềm đã viết:
"Những người cùng đi trên chuyến tàu lửa ngày ấy
Qua khu bốn, qua sông Xê Bang-Hiên, đường chín
nhìn thấy đêm Noel trong một chớp sáng
Vâng, chúng ta đã chia tay nhau ở Xê-Phôn
Tôi rẽ theo vĩ tuyến.."

Lời thơ đã xác nhận, từ cuối năm 1964, khi vào Nam, Nguyễn Khoa Điềm đã được chỉ định hoạt động tại các tỉnh miền hỏa tuyến, thuộc Vùng I chiến thuật của VNCH, trong đó có Thừa Thiên-Huế, là quê hương của đương sự, trước khi tập kết ra Bắc năm 1954.

Nhưng tại sao, trong bài viết "Một cõi đi về" của Lê Đức Dục, đăng trong tờ Kiến Thức Ngày Nay số 266 ngày 10-12-1997, xuất bản tại Thành Hồ, có kê khai danh sách những hung thần VC, nằm vùng trong các trường Đại Học Huế từ 1963-1966 như Trần Quang Long, Ngô Kha, Phan Duy Nhân, Lê Thanh Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Minh Trường, Trần Vàng Sao..., lại không hề đề cập tới tên Nguyễn Khoa Điềm. Ngược lại trong bài viết của Nguyễn Khoa Điềm, cũng chẳng hề nhắc tới Trần Vàng Sao và Tô Nhuận Vỹ?

Trong lúc đó, trên Mạng Lưới Dân Chủ, ngày 14-11-2005, có phổ biến bài viết liên quan tới Vụ Án Tổng Cục 2 của Đinh Văn Toàn, phần mở đầu, tòa soạn có ghi chú về sự liên hệ của ba nhân vật xứ Huế, cùng tập kết, hồi kết và vào nằm vùng trong Viện Đại Học Huế. Đó là Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Đính và Tô Nhuận Vỹ.
Ngoài ra, báo chí nào của VC khi nhắc tới những năm loạn lạc ở Huế từ 1965-1966, đều nhắc tới Trần Vàng Sao, mà chú thích của Mạng Lưới Dân Chủ, nói là bí danh của Nguyễn Đính, lại không hề nhắc tới hoạt động của Nguyễn Khoa Điềm, dù rằng hắn từ cuối năm 1964 đã về hoạt động, trà trộn trong Đại Học Văn Khoa Huế. Lạ một chỗ là Điềm cũng nín như hến, chẳng bao giờ tiềt lộ một lời, về những ngày hoạt động của mình tại Miền Nam từ 1964-1975.

Là người trong cuộc, cùng là VC tập kết, hồi kết và hoạt động trong các trường tại Huế, Thanh Thảo mượn cớ phê bình thơ của Nguyễn Khoa Điềm, để nói toạc móng heo về chân tướng của tên xếp chúa ngụy quân tử nhưng nhỏ mọn (khi nói những điều cao lớn, nhưng không bao giờ quên cúi nhìn những vật bé nhỏ), thâm độc, bất chấp thủ đoạn để đạt tới ý muốn. Bởi vậy, vì hám danh, nên hắn đã dám bước khỏi giới hạn của mình, qua các hành động như chỉ điểm khai báo đồng đội, khi bị bắt vào những năm 1964-1966, lúc đang hoạt động, để đổi điều kiện chỉ bị giam ở Nhà Lao Thừa Phu, mà không bị giải ra Côn Đảo như đồng bọn.

Khi VC làm chủ được thành phố Huế, vào những ngày đầu Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn Khoa Điềm được đồng bọn giải thoát và trở thành xếp chúa lúc đó, vì là một cán bộ chính quy có đảng tịch, cho nên chắc chắn Y đã ban lệnh hay đề nghị thảm sát đồng bào bị kẹt lại trong thành phố, để trả thù "Ngụy quân-Ngụy Quyền".
Mấy năm nay, nhờ theo phe cánh thân Trung Cộng tại Bắc Bộ Phủ như Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Trần Đình Hoàn, Nguyễn Văn An, nên Nguyễn Khoa Điềm được đồng bọn cất nhắc lên rất mau và được giao cho giữ chức "Trưởng Ban Tư tưởng và Văn Hóa" với trọng trách là phải tận diệt những kẻ dám chống lại đảng đang bán nước cho Tàu, hay dám ngăn cản đảng cộng sản VN tiếp tục cầm quyền, để phát huy đạo đức và trí tuệ Hồ Chí Minh, chẳng những trong quá khứ mà sau Đại Hội X càng phải tiến nhanh, tiến mạnh lên xã nghĩa thiên đường.

Lâu nay nhiều người thắc mắc về sự liên hệ giữa Nguyễn Khoa Điềm và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thậm chí không ít người quả quyết cả hai chỉ là một nhưng quan trọng nhất vẫn là câu hỏi là tại sao Nguyễn Khoa Điềm chỉ là con của Hải Triều, lại không có kiến thức về tư tưởng, kinh tế hay khả năng quản lý, còn tư cách cá nhân cũng không có. Như vậy chắc phải có một động lực nào, đã đẩy Điềm tiến nhanh vào vị trí vô cùng quan trọng, trong Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư Trung Ương Đảng VC?
Nhiều chục năm về trước, Tố Hữu vì lợi danh, mà dám làm nhiều chuyện tàn ác kinh thiên động địa, trong đó có Vụ Án Nhân Vân-Giai Phẩm, để bia miệng khinh chê nguyền rủa mỗi lần có dịp nhắc tới. Nguyễn Khoa Điềm bây giờ cũng vậy, vì lợi ích cá nhân, chẳng những chạy theo bọn thân Tàu để toa rập bán nước, mà còn thẳng tay đàn áp đồng bào, bóp chẹt tất cả tự do của mọi người, bất chấp miệng đời và lưới trời nhân quả.
"bây giờ mùa mưa đã qua
giọt nước đầu hiên đặc quánh
bây giờ bạn đã quay lưng
chén trà một chân đóng cặn
Anh là kẻ phải đánh trận sau cùng
kẻ được xé vé cuối cùng trong rạp hát
sự may mắn của anh dính dáng ít nhiều tới những rễ cây"
(thơ Nguyễn Khoa Điềm)
Thơ là người, thơ đã thay Điềm nói lên chân tướng của mình, nhất là lúc này dưới áp lực của mọi phía, về cái gọi là "vụ án siêu nghiêm trọng T4", có liên hệ tới 11 ủy viên Bộ Chính Trị, trong số này có Nguyễn Khoa Điềm, cần đưa ra xét xử trước khi họp Đại Hội X. nhưng như lời thơ ở trên đã khẳng định "sự may mắn của Anh, dính dáng ít nhiều tới rễ cây". Như vậy ai là kẻ chống lưng Điềm, chắc chắn ngoài Lê Đức Anh, Đỗ Mười... còn có Trung Cộng nhúng tay vào chỉ dạy đảng, cho nên ai dám bứng hắn ra khỏi quyền lực đang nắm khi VC vẫn còn làm tôi tớ cho người Tàu?
Có lẽ vì thấy không thể bưng bít được miệng người, nên sau Đại Hội Đảng X, bọn chóp bu Hà Nội đã hắt Điềm ra khỏi trung tâm quyền lực, để chờ giờ vắt chanh bỏ vỏ. Đó cũng là nguyên lý của luật chơi giang hồ, có vay thì phải trả, đừng thấy thiên hạ làm thinh mà ngở là có thể quịt được những nợ nần đã vay của thiên hạ từ trước.

1- Chân tướng của Nguyễn Khoa Điềm:
Nguyễn Khoa Điềm là con Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, cháu nội của Nguyễn khoa Tùng và Nguyễn Phúc Đồng Canh hay Công Nữ Đồng Canh mà báo chí thường gọi là Đạm Phương Nữ Sử.
Đọc qua gia thế của cha con Nguyễn Khoa Điềm, ai cũng thấy đó là một thế gia vọng tộc, con vua cháu chúa thời Nhà Nguyễn, lừng danh tại kinh thành Huế. Tiếc thay, cả cha lẫn con đều là quốc tặc, chạy theo Hồ Chí Minh và đảng cộng sản, phản lại tiên tổ, bán nước cầu vinh, hãm hại đồng bào, chắc chắn sẽ lưu xú danh ngàn đời trong những trang sử Việt.
Căn cứ theo tài liệu của Nguyễn Khoa Diệu Biên và Nguyễn Cửu Thọ, xuất bản tại thành Hồ năm 1995, nên biết được Đạm Phương sinh năm 1881 tại Huế và mất năm 1947 ở Thanh Hóa. Vì từng làm nữ quan thời Nhà Nguyễn, phụ trách việc ghi chép và dạy các công chúa cũng như cung nữ trong nội cung, nên người đương thời gọi bà là Nữ Sử.
Đạm Phương là con ruột của Hoàng tử 66 của Vua Minh Mạng, tên Nguyễn Phúc Miên Triện, tước Hoằng Hóa Quận Vương. Bà Đạm Phương là chính thất của ông Nghè Nguyễn Khoa Tùng, sinh được sáu con ruột là Nguyễn Khoa Diệu Nhơn, Nguyễn Khoa Diệu Duyên, Nguyễn Khoa Tú, Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều), Nguyễn Khoa Châu (Hải Châu) và Nguyễn Khoa Diệu Vân. Ngoài ra Nguyễn Khoa Tùng còn có vợ hai tên Hồ Thị Lệ, sinh được năm con tên Nguyễn Khoa Vỹ, Nguyễn Khoa Diệu Kỳ, Nguyễn Khoa Diệu Dung, Nguyễn Khoa Tiếu và Nguyễn Khoa Diệu Cầu.
Như vậy xét về gia phả, Hải Triều, Hải Châu cũng như Nguyễn Khoa Điềm sau này, đều là tôn thất của Nhà Nguyễn, nhưng bọn chúng đã tán tận lương tâm, tin lời Hồ Chí Minh và cộng sản, đã tận tuyệt dứt điểm nhà Nguyễn vào tháng 9-1945, khi bắt ép vua Bảo Đại phải dâng ấn kiếm thoái vị.
Sau đó thực dân Pháp theo chân quân Anh-Ấn vào tái chiếm lại thuộc địa VN. Vì vậy năm 1947, Hải Triều phải đưa mẹ là Đạm Phương, chạy ra Quảng Bình rồi Thanh Hóa và mất ở đó trong năm.

+ Hải Triều:
Hải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh ngày 1-10-1908 tại An Cựu (Thừa Thiên). Gia nhập đảng Tân Việt (tiền thân của đảng cộng sản Đông Dương), vào năm 1927, được đánh giá như là một lý thuyết gia của cộng sản. Năm 1931, Hải Triều bị bắt tại Sàigòn, tòa kêu án rất nặng nhưng không biết vì lý do gì, lại được thả vào tháng 7-1932 tại Huế.
Bắt đầu từ đó, Hải Triều công khai hoạt động cho cộng sản, dùng ngòi bút để tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lê, cùng với quan điểm của đảng qua chiêu bài "nghệ thuật vi nhân sinh". Nhiều tác phẩm được xuất bản như Chủ nghĩa Mác Xít Phổ Thông (1935), Văn Sĩ và Xã Hội (1937), Duy Tâm Hay Duy Vật (1935)... Năm 1939, Hải Triều, Hải Thanh và Phan Đăng Lựu, mua lại tờ Sông Hương của Phan Khôi, biến thành cơ quan tuyên truyền của cộng sản tại Miền Trung nhưng cũng chỉ được vài số, thì đình bản.
Tháng 8-1940, Hải Triều lại bị bắt và an trí tại Phong Điền (Thừa Thiên) và được thả vào tháng 3-1945. Tháng 9-1945 cùng đồng bọn đến Hoàng Cung, bắt ép vua Bảo Đại thoái vị, nhường ngôi, nên được Hồ Chí Minh thưởng công, cho làm Giám đốc Sở tuyên truyền Trung phần. Từ năm 1947 ra Bắc và được phong chức Giám đốc Sở tuyên truyền Liên Khu IV kiêm Ủy viên Ban Chấp hành Chi hội Văn Nghệ và chết ngày 6-8-1954 tại Hà Lăng, Thanh Hóa. Sau tháng 5-1975, VC đã cho cải táng phần mộ của Đạm Phương và Hải Triều từ Thanh Hóa, về chôn trong Khu Di Tích Phan Bội Châu, tại Bến Ngự (Huế).
Nhắc tới Hải Triều là phải nói những bài luận chiến đăng trên báo sặc mùi lý luận Mác xít, duy vật, ảnh hưởng từ các triết gia thiên tả thời đó như Henri Barbusse, Romain Rolland, Maxime Gorki... Tuy nhiên đảng chỉ xài Hải Triều lúc còn phôi thai, vào những thập niên trước 1945, là thời điểm rất cần để tuyên truyền lôi cuốn mọi người vào đảng. Điều này cũng dễ hiểu, vì sau tháng 9-1945, Hồ Chí Minh và Đảng cộng Sản đã chiếm được chính quyền, nên quyền hành lớn phải được giao cho những bộ hạ thân tín. Đó là lý do, Hải Triều chỉ được công tác tại Thanh Hóa, còn những bài lý luận, được đánh giá thuộc loại dao to búa lớn nhưng đâu có ma nào để ý tới như trước.
Nguyễn Khoa Điềm là con của Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, hiện nay là một trong những tên cán bộ gộc theo Trung Cộng, nắm quyền sinh sát đồng bào và vận mệnh của cả Quốc Gia-Dân Tộc. Tuy là hai cha con nhưng Hải Triều thăng tiến một thời, nhờ cái lưỡi không xương ngụy luận, để dụ dỗ tuyên truyền những người nông dân xóm biển, theo chúng làm giặc. Trái lại Nguyễn Khoa Điềm vừa tàn bạo bất nhân, lại là một kẻ xu phụ cấp trên nhưng không tha kẻ dưới, độc tài độc đoán, căm thù giai cấp và trên hết là rất kiên trì tôn thờ chủ nghĩa Maoit. Cho nên việc Nguyễn Khoa Điềm đã ra lệnh tàn sát đồng bào Huế vào Tết Mậu Thân (1968) để trả thù rửa hận, vì bị Chính phủ VNCH bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ Huế hay chạy theo đuôi bọn thân Trung Cộng, tại Bắc Bộ Phủ để tiến thân, xét cho cùng, thì cũng đâu có lạ gì với một kẻ tán tận lương tâm, hại dân bán nước.

2- Nguyễn Khoa Điềm, từ thảm sát đồng bào Huế (1968), ttới hành động bán nước cho Trung Cộng:
Tỉnh Thừa Thiên nằm giữa miền Trung VN, có diện tích 5054km2 và dân số tính đến năm 2000 là 1,045,134 người với các quận Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, A Lưới và Nam Đồng. Tỉnh lỵ là thành phố Huế hiện nay có diện tích 380km2 với 209,043 người. Là cố đô của nhà Nguyễn (1802-1945), Huế muôn đời vẫn đẹp và thơ mộng, mang nhiều sắc thái tiêu biểu cho dân tộc, nhân chứng của một chặng đường lịch sử, văn hóa, kiến trúc VN.
Nghĩ về Huế, dù là địa phương hay kẻ viễn khách, ai cũng đều ưa thích những công trình kiến trúc lịch sử cung điện và lăng tẩm của các tiên vương nhà Nguyễn. Kinh thành Huế do vua Gia Long cho khởi công xây cất từ năm 1805 mãi tới năm 1838 đời vua Minh Mạng mới xong. Những gì còn lại của Huế hôm nay chỉ là một phần công trình của cố đô trong đống gạch vụn do Việt Cộng và bọn Việt Gian VNCH tàn phá vào Tết Mậu Thân 1968.
Ngoài ra Huế còn nhiều nét tiêu biểu khác như Chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền, Chợ Đông Ba, với trường Quốc Học cổ kính nằm cạnh bờ sông với hàng phượng vỹ nở rộ mỗi độ hè về, núi Ngự Bình trước tròn sau méo, sông An Cựu nắng đục mưa trong, hồ Tĩnh Tâm sen nở ngút ngàn và Phú Văn Lâu trơ gan cùng tuế nguyệt. Nói tới Huế để nhớ về những hình ảnh nổi bật dịu dàng của người dân đất thần kinh như mái tóc thề, tà áo dài trắng, chiếc nón bài thơ, những giọng hò, câu hát... tất cả là những nét đẹp làm Huế miên viễn sống với sông núi thời gian.
Cuối cùng nhớ Huế là nhớ đến công trình mở nước vĩ đại của các Chúa Nguyễn Hoàng, Sải Vương, Hiền Vương, Phúc Chu, Phúc Trú... cho ta một giải giang sơn gấm vốc tới tận mũi Cà Mâu no giàu để con cháu về sau một đời sung mãn. Những đấng Tiên Vương công đức và sự nghiệp ngất cao như núi trên, từ khi VC lên nắm quyền, đã bị chúng hủy diệt, để dành công, dành tiếng và dành địa vị độc tôn yêu nước trong dòng sử Việt.
Từ năm 1967, Hà Nội đã quyết định tổng tấn công VNCH vào những ngày hưu chiến Tết Mậu Thân 1968. Trong số 44 tỉnh thị tại miền Nam bị đột kích, thì Sàigòn và Huế là quan trọng và bị thiệt hại nhiều hơn cả. Trận chiến mở màn vào sáng mồng hai Tết, nhằm ngày 31-1-1968, bằng hai cánh quân với nhiều tiểu đoàn chính qui Bắc Việt. Cũng nói thêm là VC đã lợi dụng những xáo trộn tại Huế trong các năm 1965,1966, xâm nhập hoạt động cũng như móc nối dụ dỗ một số học sinh, sinh viện tại địa phương. Thật ra mặt trận quan trọng nhất của VC ở Huế là mặt trận chính trị, vì vậy Hà Nội bất chấp máu xương của cán binh và thường dân vô tội, ra lịnh cho đám tàn binh phải cố thủ trong Đại Nội, lúc đó thật bi thảm tuyệt vọng bởi các vòng vây của quân lực Hoa Kỳ và VNCH.
Phụ trách công tác tổng khởi nghĩa, để lập chính quyền cách mạng ở Huế là Hoàng kim Loan và Hoàng Lanh, đã vào nằm vùng từ lâu trong nhà một giám thị trường Quốc Học là Nguyễn Đoá. Ngoài ra còn có Nguyễn trung Chính, Nguyễn Hữu Vân (giáo sư trường Âm nhạc kịch nghệ), Phan Nam, Nguyễn Thiết. Ngày 14-2-1968 đài VC phát thanh tại Hà Nội cho biết đã lập xong chính quyền cách mạng tại Huế do Lê văn Hảo làm chủ tịch, còn Đào thị xuân Yến và Hoàng phương Thảo làm phó.
Ngoài ra còn có cái Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình được Hà Nội nặn ra ngày mồng ba Tết (1-2-1968) cũng do Lê văn Hảo, tiến sĩ giảng sư về nhân chủng học tại Đại Học Huế và Sàigòn làm chủ tịch liên minh. Theo Hảo vì trốn lính, nên 1953 qua Pháp du học và tiêm nhiễm chủ nghĩa cộng sản của Trần văn Khê, Nguyễn khắc Viện, nên vào các năm 1965, 1966 dù đang sống trong cảnh giàu sang, chức trọng lại được trốn lính nhưng vẫn tán tận lương tâm, theo VC nằm vùng là Hoàng phủ ngọc Tường và Tôn thất Dương Tiềm vào MTGPMN và ra bưng cuối tháng 12/1967.
Trong Liên Minh Ma này còn có Hoàng phủ ngọc Tường, Thích Đôn Hậu, Nguyễn Đoá, Hoàng phủ ngọc Phan, Nguyễn đắc Xuân... Tóm lại mặt trận được chỉ huy tổng quát bởi Lê Minh, Trưởng ban an ninh khu ủy Trị Thiên, còn Tống hoàng Nguyên và Nguyễn đình Bảy Khiêm thì lo về phần thủ tiêu, giết người vô tội tại Huế. Theo Bảy Khiêm, chính Y đã giết rất nhiều sĩ quan và cán bộ, công chức VNCH bị kẹt tại Huế, cùng các giáo sư người Đức dạy tại Đại học Y Khoa, qua chỉ điểm của VC nằm vùng và sau này Lê Minh lẫn Bùi Tín đều xác nhận Việt Cộng đã tận tuyệt tàn sát vô nhân đạo đồng bào vô tội tại Huế vào Tết Mậu Thân 1968. Tóm lại không còn lời nào để đủ viết về Huế đang quằn quại trong lửa máu, giống như những nhịp cầu Tràng Tiền trên Hương Giang đớn đau gãy sập. Hỡi ôi sắt thép, gỗ đá còn biết rơi nước mắt với Huế thê lương, trong khi đó lại có không ít người thản nhiên đứng vỗ tay cười.
Những hành động dã man nhắm vào dân lành tại Huế, làm nhớ tới Nga Sô tàn sát hơn 5000 hàng binh Ba Lan phần lớn là sĩ quan vào tháng 9-1939 tại rừng Katyn ở phía Tây thành phố Smolensk, chứng tỏ bản chất hiếu sát vốn tiềm tàng trong máu óc của cộng sản, dù chúng là ai chăng nữa, tất cả đều giống nhau vì cùng chung một tổ, một lò.
Trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, Huế là thành phố bị thiệt hại nặng nhất về nhân mạng cũng như vật chất vì bị VC chiếm đóng lâu dài nhất. Riêng người Huế sở dĩ bị tàn sát dã man, theo một số nhân chứng, do VC được chỉ điểm bởi một số nằm vùng địa phương vì thù oán nhau mà trả thù, rồi lại được tự do đi lại trong thành phố nên tự do hành động, nhất là trong khoảng từ mồng hai tới mồng bốn, tha hồ đi từng nhà, lôi từng người ra bắn giết theo ý muốn, đúng với kỹ thuật bắt và thủ tiêu theo KGB và Maoit.
Trong số các hung thần can dự tới bữa tiệc máu tại Huế, dư luận trước sau vẫn nhắm vào Lê văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan và Nguyễn đắc Xuân. Năm 1966 khi còn là một sinh viên, Nguyễn đắc Xuân từng tổ chức đoàn "Phật Tử Quyết Tử" quậy nát Huế, sau đó trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội "Công tác thanh niên" và khuyến dụ các quân nhân VNCH bị kẹt, để lập cái gọi là đoàn nghĩa binh...
Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế không hưởng ứng tổng khởi nghĩa, đã bỏ trốn sang các khu vực có QLVNCH như Mang Cá, Trường Kiểu Mẫu, Tiểu Khu Thừa Thiên, Bến Tàu, Phú Bài... Bắt đầu ngày mồng ba Tết, QLVNCH và Hoa Kỳ phản công, ngày 7-2-1968 VC giựt sập cầu Trường Tiền. Ngày 15-2 Quân Ủy cộng sản tại Hà Nội ban lệnh cho VC tử thủ tại Huế, nhưng tình hình càng lúc càng bi đát cho VC nên Lê Minh muốn rút quân. Ngày 23-2 VC bị đẩy ra khỏi Huế, lá cờ VNCH lại tung bay trên kỳ đài ở Phú văn Lâu.
Nói chung cộng sản tàn sát đồng bào Huế nhiều nhất là tại khu dân cư Gia Hội vì vùng này bị VC chiếm lâu nhất từ ngày mùng 2 Tềt đến 22-2-1968 mới được Biệt Động Quân giải tỏa, bởi vậy giặc và Việt gian mới có cơ hội giết nhiều đồng bào vô tội. Cho đến nay không ai biết chính xác số người bị VC tàn sát tại Huế là bao nhiêu nhưng căn cứ vào thống kê số hài cốt tìm được trong một số hầm chôn tập thể sau khi giặc bị đánh đuổi khỏi thành phố, tại các địa điểm Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bải Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Đức, Đồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Đông Ba, Trường An Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chùa Từ Quang, Lăng Gia Long, Đồng Di, Vịnh Thái, Phù Lương, Phú Xuân, Thượng Hòa, Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Đá Mài... tổng cộng đếm được 2326 xác.
Về câu hỏi tại sao VC tàn sát thường dân vô tội, đến nay Hà Nội vẫn tránh né, còn Võ nguyên Giáp thì đểu giả hơn khi bị các ký giả ngoại quốc phỏng vấn sau Tết Mậu Thân, đã trả lời là Bắc Việt không hề biết vì đó chuyện của MTGPMN và VNCH. Theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, thì động cơ cộng sản tàn sát dân chúng tại Huế, ngoài một lý do nhỏ là sự trả thù do hờn oán trước đây giữa cá nhân và cá nhân, thì tàn sát theo kế hoạch phá hủy và làm rối loạn bộ máy cầm quyền của VNCH, điều này đã được ghi lại trong một tài liệu của cán bộ VC, bị SD1 Không kỵ Hoa Kỳ bắt được tại tỉnh Thừa Thiên ngày 12-6-1968. Tàn sát để khủng bố và cảnh cáo đe dọa dân chúng đừng tòng quân chống cộng. Tàn sát tín đồ Thiên Chúa Giáo để chia rẽ sự đoàn kết tại miền Nam, tạo sự nghi kỵ giữa các tôn giáo cho tới ngày VC cưỡng chiếm được miền Nam mới chấm dứt vì VC độc tài đảng trị, cấm biểu tình xuống đường, nên bốn bên bốn phía bình đẳng chịu sống chung hòa bình, nên gần như không thấy tự thiêu, tuyệt thực và ra báo chống đối, bêu xấu, hạ nhục chính quyền như cơm bữa thời VNCH.
Chỉ vì dã tâm xâm lăng cho được VNCH, mà Hà Nội trong cuộc chiến Mậu Thân đã giết hại hàng chục ngàn người trên toàn quốc và chỉ riêng tại Huế lại chôn sống đồng bào, vậy mà tới nay từ Hà Nội cho tới bọn cộng sản tại Huế vẫn coi như không hề xảy ra một chuyện gì và cũng chẳng có ai nhận trách nhiệu, ngoài việc công khai đổ hết nợ máu cho Lê văn Hảo, Hoàng phủ ngọc Tường, Hoàng phủ ngọc Phan, Nguyễn Đoá, Nguyễn đắc Xuân.
Năm 1998, ngày giỗ chung của gần 100,000 người VN chết trong cuộc chiến cũng là ngày VC ăn mừng chiến thắng Mậu Thân, ca tụng bài thơ của Hồ viết chúc Tết đồng thời cũng là mật hiệu cho cán binh tại miền Nam mở cuộc tiệc máu. Chính Bộ Trưởng quốc phòng Bắc Việt lúc đó là Võ nguyên Giáp soạn thảo kế hoạch, Phạm Hùng Ủy viên Bộ Chính trị, chỉ đạo Trung Ương Cục Miên Nam chỉ huy trận tổng tấn công, vậy mà cũng chính Võ nguyên Giáp đã trân tráo dám nói láo với nhà báo Tây Phương vào năm 1969 là hoàn toàn vô can, vô trách nhiệm.
Gần đây Nguyễn Đính, tức Trần Vàng Sao, một thời nằm vùng trong Đại Học Huế, có viết "Thơ của người yêu nước mình", trong đó có nhắc tới Nguyễn Khoa Điềm. Thật ra ai cũng biết Điềm hồi kết về Nam, trong Đoàn K-33 vào cuối năm 1964, vì là một cán bộ chính trị, nên Điềm được lệnh trà trộn vào trong Đại Học Văn Khoa Huế, để móc bối, tuyên truyền, dụ dỗ các sinh viên nhẹ dạ, chạy theo VC.
Tuy vậy, không lâu chân tướng Điềm bị lộ tẩy nên bị an ninh VNCH bắt và giam tại Nhà lao Thừa Phủ-Huế cho tới Tết Mậu Thân, mới được đồng bọn giải thoát. Có một điều lạ, là hầu hết những VC nằm vùng tại Huế như Ngô Kha, Phan Duy Nhân hay những sinh viên theo VC tại Sàigòn, khi bị bắt, đều bị giam cầm tại Côn Đảo, mặc dù họ chỉ là những kẻ liên hệ hay cán bộ địa phương.
Trái lại Nguyễn Khoa Điềm là đảng viên cộng sản, cán bộ chính qui nhưng tại sao chỉ bị giam giữ ở Huế, mà không bị đưa ra Côn Đảo, Phú Quốc hay các trại giam tù phiến Cộng ở Biên Hòa, Pleiku? Chính điểm này, khiến cho các nhà viết sử sau này, đã khẳng định là Điềm đã khai báo với Chính quyền Quốc Gia, những bí mật có liên hệ tới tổ chức. Vì vậy vào cuối năm 1966, coi như phong trào nổi loạn của VC nằm vùng tại Huế-Đà Nẳng, gần như bị phá vỡ hoàn toàn. Bọn đầu sỏ như Lê văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường... nhờ mật báo nên nhanh chân, trốn vào núi.
Mặc khác, tuy Điềm được sinh trưởng tại Huế nhưng từ năm 1947, cả gia đình đã di tản hết ra Thanh Hóa và sống tại đó, nên đã bị đảng cộng sản nhồi sọ, tuyên truyền và dạy dỗ từ tuổi nhỏ, đến lúc trưởng thành. Bởi vậy Điềm rất căm thù giai cấp, dù mình và gia đình cũng xuất thân từ chốn cung đình, con quan cháu chúa, ăn trên mặc sướng và làm cha thiên hạ. Do bản tính đã biến thành thú người, nên khi được thả ra khỏi tù vào những ngày đầu Tết Mậu Thân, Điềm đã góp ý cùng đám hung thần Xuân, Phan, Tường... cứ thẳng tay tàn sát hết bọn ngụy dân, ngụy quân, ngụy quyền, đang bị kẹt tại Huế.
Sở dĩ đến nay, chuyện kín của Nguyễn Khoa Điềm chưa bị phanh phui trước dư luận, tuy rằng đã có kẻ thầm thì bàn tán. Chuyện này cũng dễ hiểu, vì Điềm vốn là tên sát nhân giết người không gớm tay. Cái sự y dám rút súng bắn Nguyễn Đắc Xuân vào năm 1977, khi cả hai cùng công tác tại Ban Tuyên Huấn Thành Ủy Huế, khiến cho mọi ngưởi, kể cả bạn thân như Tô Nhuận Vỹ hay Trần Vàng Sao, dù biết rõ chân tướng của Điềm nhưng đâu dám tố cáo, vì sợ bị trả thù.
Hơn nữa, từ lâu Nguyễn Khoa Điềm đã thuộc phe cánh của Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Trần đình Hòan, Nguyễn Chí Vịnh... đều là những cán bộ then chốt trong Bộ Chính Trị. Từ năm 2001 được cất nhắc vào Trung Ương Đảng, giữ chức Trưởng Ban Tư tưởng và văn hóa, Điềm đã thẳng tay kiểm soát báo chí và mạng internet cả nước, độc tài độc đảng và luôn luôn trung thành với tư tưởng Mao Trạch Đông, thù hận giai cấp và sắt máu với đồng bào.
Ngày 8-9-2004, trên tờ Lao Động xuất bản tại thành Hồ, Trần Bạch Đằng, đã nhắc lại lời thề của Lê Duẩn tại Ba Đình vào tháng 9-1969, là luôn theo gương Hồ Chí Minh, nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa, dựa trên cơ sở Mác-Lênin và quốc tế vô sản. Mới đây Đằng lại khẳng định cho rằng sự kiện vĩ đại nhất trong năm 2006, là đại hội X phải Hồ Chí Minh hơn nữa, để xứng đáng cầm quyền tại VN. Những lời tuyên bố trên, rất là phù hợp với Nguyễn Khoa Điềm, qua vai trò Trưởng Ban Tư tưởng và Văn hóa của đảng, cũng từng khẳng định, là quyết kiên trì, theo đuổi tới cùng, chủ nghĩa cộng sản và tư tưởng Mao Trạch Đông.
Từ những cái đầu lạc hậu trên, ta mới có thể thấu đáo một cách thực tế, về cái gọi là Nghị Quyết 36 của đảng VC do Nguyễn Khoa Điềm soạn thảo, với phần quan trọng nhất vẫn là tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, nhắm tới giới trẻ tị nạn, sinh và lớn lên tại hải ngoại, vốn vô tư nên không biết gì tới hận thù mà cha mẹ chúng đã phải hứng chịu, khi còn sống tại quê hương, sau ngày 30-4-1975.
Đầu năm nay, VC lại không được gia nhập vào Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), vì không đủ điều kiện. Nhưng đây chính là cơ hội vàng ròng của phe nhóm theo Trung Cộng tại Ba Đình như Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Phú Trọng, Trần đình Hoan và nhất là Nguyễn Khoa Điềm tha hồ xỉa xói, công kích phe thân Mỹ và Tây phương như Phan Văn Khải. Rồi như là cả đảng đứng dậy chống Mỹ kể cả Vũ Khoan, Lương văn Tự, Ngô Quang Xuân... sau đó cùng quyết tâm keo sơn với Bắc Kinh, nhân dịp Hồ Cẩm Đào sang kinh lý VN.
Người Tàu đã biết chọn đúng thời cơ để hành động, giữa khi mối liên hệ VC và Hoa Kỳ đang ghẻ lạnh vì sự trục trặc vào WTO, thêm nữa là vụ nhân quyền. Nắm được dịp may trên trời rớt xuống, Hồ Cẩm Đào tới Hà Nội, vừa cứu bồ đang nguy ngập vì vụ án T4, lại có dịp dụ dỗ các đồng chí, phải tiếp tục keo sơn với xã hội chủ nghĩa, kết chặt tình hữu nghị Việt-Trung. Kết quả Trung Cộng thắng lớn, khi được VC hợp tác qua bảy văn kiện ký kết, trong đó có chuyện hai nước cùng chung khai thác dầu khí trên thềm lục địa của VN tại biển Đông. Ngoài ra, Tàu cũng là nước độc quyền bán điện cho VN.
Thế là nước ta nay đã thật sự bị Trung Cộng xiềng xích, không còn quyền tự do để mà giao dịch trực tiếp với Mỹ, Úc và Liên Âu... vì đã bị Tàu kềm chặt, qua quyết định của Nhóm giáo điều bảo thủ lạc hậu nhất tại Hà Nội là Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Khoa Điềm và bàn tay của Tổng Cục 2. Thế giới bi quan nhìn vào tương lai VN ngày nay, vì với cái đà Tàu hóa, khiến cho công trình đổi mới trong 20 năm qua, có nguy cơ dậm chân tại chỗ, vì mục đích chiến lược của Trung Cộng, từ trước nay, luôn muốn cho VN bị cô lập trước thế giới tự do, trở thành lạc hậu suy yếu, không còn đủ sức tự vệ, nên rốt cục phải buộc chặt vào chúng, để mà sinh tồn và giữ đảng.
Rồi như muốn đổ dầu thêm vào lửa, Nguyễn Khoa Điềm vội vã phát hành cuốn "Đại tướng Lê Đức Anh", còn Đỗ Mười thì viết "Về định hướng xã hội chủ nghĩa, trong công cuộc xây dựng đất nước". Rồi giữa lúc đảng VC đang tổ chức Hội nghị trung ương 14, bầu bán chóp bu đảng, cho Đại hội X, thì Trung Cộng lại cho Giả Khánh Lâm sang, để ban huấn thị.

- Láng giềng hữu nghị
- Hợp tác toàn diện
- Ổn định lâu dài
- Hướng tới tương lai
Cho nên dù kỳ này, ai có làm tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch... thì đất nước cũng đã lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Cộng. Cho nên những việc như báo chí trong nước đòi đảng công khai cho toàn dân biết tên những kẻ được chọn vào Trung Ương Đảng Khóa X, hay đòi cán bộ cung khai tài sản và rải truyền đơn chống đối. Tất cả chỉ là chuyện ruồi bu, đối với những tên sắt máu, lạc hậu đang nắm vận mệnh dân tộc và đất nước VN, trong đó dĩ nhiên phải có Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Nguyễn Khoa Điềm.
Mới đây trên báo chi Mỹ và Việt hải ngoại, lại xuất hiện, cái được gọi là "Công trình vĩ đại" của một nhóm ký giả Mỹ, khi trình làng thêm nhiều tội ác của chiến tranh, trong đó nói về việc quân đội Hoa Kỳ, tàn sát đồng bào VN rất nhiều, chứ không phải chỉ có vụ Mỹ Lai (Quảng Ngãi). Cơ hội chửi Mỹ Ngụy, lần này được Hà Nội bỏ qua, vì hiểu rằng, nếu Đảng ta cho khai thác, thì chắc chắc, đây là cơ hội vàng, để dư luận thế giới trong đó có hằng ngàn nạn nhân, sẽ làm bừng dậy Thảm Kịch VC tàn sát, chôn sống Đồng Bào Vô Tội Nam VN tại Huế, vào Tết Mậu Thân (1968) -/-
Xóm Cồn, 2006
Hồ Đinh

Nguyễn Đoá
TênNguyễn Đoá


Nhân sĩ
Quê quánĐiện Bàn - Quảng Nam (Điện Bàn - Quảng Nam)
Thời kỳthế kỷ 20
Năm sinhBính Thân - 1896
Năm mấtQuý Dậu - 1993

Nhân sĩ, giáo sư Trung học Nguyễn Đoá sinh năm Bính Thân 1896, quê làng Bích Trâm, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nay là huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, ông cư ngụ ở TP Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Xuất thân trong gia đình truyền thống Nho học và yêu nước, con trai cử nhân Nguyễn Nhự. Thân phụ ông từng tham gia phong trào Duy tân năm 1908, một trong những nhân vật then chốt trong cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916.

Thuở nhỏ học ở Huế, tốt nghiệp trung học, ông làm giáo học, nhiều nơi ở miền Trung, lúc dạy ở trường Quốc học Huế, giữ chức Đốc học Thừa Thiên đến năm 1945.

Sau năm 1954, ông dạy tại trường Bồ Đề (Huế), đến năm Mậu Thân 1968, ông được lực lượng Cách mạng đón ra vùng giải phóng cùng lúc với Hòa thượng Đôn Hậu (1905 – 1992). Tại đây, ông tham gia Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam nhằm vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Kể từ 1968 ông đi thăm một số nước trên thế giới vận động tái lập hòa bình tại Việt Nam.

Từng giữ chức vụ: Phó chủ tịch Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, Phó chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.

Sau ngày thống nhất đất nước 30-4-1975, ông về sống tại Huế, rồi mất năm 1993, thọ 97 tuổi.

Vài nét về chân tướng của Nguyễn Khoa Điềm
Đinh Văn Toàn

Từ lâu nhiều người thắc mắc không biết tại sao một người như Nguyễn Khoa Điềm lại lên rất nhanh đến một vị trí quan trọng trong bộ chính trị của đảng cọng sản Việt Nam.

Xét về năng lực cá nhân, Nguyễn Khoa Điềm không có tài cán gì đặc biệt. Nguyễn Khoa Điềm được xem là một thi sĩ hạng thường với một vài tập thơ ít người biết đến.

Nguyễn Khoa Điềm cũng không phải là một nhà tư tưởng, không có kiến thức về kinh tế, không có khả năng quản lý, tại sao có thể lên nhanh như vậy ?

Về lý lịch gia đình thì Nguyễn Khoa Điềm là con của Hải Triều, thì cũng không hơn gì lý lịch của Ngô Yên Thi lcho ắm, nhưng tại sao Ngô Yên Thi chỉ lên được chức Uỷ Viên Trung ương, bí thư tỉnh uỷ Thừa Thiên - Huế rồi sau đó cũng bị giáng chức và bị điều ra Hà Nội làm trưởng ban tôn giáo trung ương, một ban không xơ múi gì được nhưng lại bị chỉ trích rất nhiều ?

Về quá trình hoạt động, Nguyễn Khoa Điềm thua xa Ngô Yên Thi. Trong khi Ngô Yên Thi đã là uỷ viên của thành uỷ Huế, tỉnh uỷ viên Thừa Thiên - Huế, thì Nguyễn Khoa Điềm cũng chỉ là một cán bộ quèn tại ban tuyên huấn thành uỷ Huế.

Về tư cách cá nhân thì Nguyễn Khoa Điềm là một người rất cộc tính. Năm 1977, trong một vụ ghen tương với Nguyễn Đắc Xuân, một cán bộ cùng công tác với Nguyễn Khoa Điềm tại Ban Tuyên Huấn thành uỷ Huế hắn đã rút súng K54 bắn Nguyễn Đắc Xuân ngay tại cơ quan nhưng rất may không trúng. Vụ này mọi người dân ở Huế hồi đó đều biết và Nguyễn Khoa Điềm đã bị đưa ra kiểm điểm tại thành uỷ Huế.

Với vài nét khái quát như trên, mọi người đều thấy rõ nếu không có một sự cất nhắc đặc biệt của một người hoặc một nhóm người ở chức vụ cao nhất của đảng cọng sản Việt Nam thì Nguyễn Khoa Điềm không thể nào leo cao đến như vậy.

Từ lâu, để tạo vây cánh cho mình, Lê Đức Anh và tay chân đã có một kế hoạch lâu dài nhằm tìm hiểu, móc nối và kết bè kết phái với những thành phần mà Lê Đức Anh nghĩ là có thể sử dụng sau này. Mọi sự bắt đầu khi Lê Đức Anh tìm thấy ở Nguyễn Khoa Điềm những đặc tính của một con cờ dễ điều khiển mà Lê Đức Anh có thể đưa lên cao và không bao giờ dám cải lời mình.

Trước hết, Nguyễn Khoa Điềm là một tên xu phụ, không bao giờ dám có ý kiến khác với ý kiến của cấp trên. Đây là đặc điểm cốt yếu mà Lê Đức Anh muốn thấy ở con cờ của mình. Cũng vì tính chất này mà khi lọt vào bộ chính trị, Nguyễn Khoa Điềm không chấp nhận cho những người dưới quyền có ý kiến khác với ý kiến của y. Những biệp pháp kiểm soát internet và báo chí trong thời gian gần đây đã cho thấy rõ điều này.

Hai là hắn là con của Nguyễn Khoa Hải Triều, một người thân cận với Hồ Chí Minh, quê ở Thừa Thiên nhưng lớn lên ở miền Bắc, như vậy khi Lê Đức Anh tiến cử vào trung ương đảng thì sẽ ít bị phản đối.

Nhưng có một điểm mấu chốt mà ít người biết đến nhưng Lê Đức Anh lại nắm được, (và có thể tình báo của Trung Cọng cũng nắm được), đó là thời kỳ Nguyễn Khoa Điềm bị giam tại nhà lao Thừa Phủ - Huế.

Trong những năm 60, khi những cuộc đấu tranh của phong trào học sinh sinh viên liên tục diễn ra tại các đô thị miền Nam, Nguyễn Khoa Điềm được đưa vào Huế để trà trộn trong giới sinh viên. Nguyễn Khoa Điềm ghi danh vào đại học văn khoa Huế, nhưng không may sau đó bị bại lộ. Nguyễn Khoa Điềm bị bắt và giam tại lao Thừa Phủ cho đến Tết Mậu Thân [1]. Là một người nhát đòn, Nguyễn Khoa Điềm đã cung khai tất cả mọi chuyện cho phòng nhì Huế. Chính vì vậy mà Nguyễn Khoa Điềm không bị đưa đi Côn Đảo như những thanh niên, sinh viên học sinh có liên hệ với Mặt Trận giải Phóng như Vịnh, Cổn, Long, Tòng, Kiệt tại Sài Gòn.

Chính vì điều này mà mặc dù vụ án siêu nghiêm trọng đã hết sức rõ ràng nhưng Nguyễn Khoa Điềm vẫn cố sống cố chết bảo vệ Lê Đức Anh và Nguyễn Chí Vịnh; và dĩ nhiên trong việc dâng đất cho Tàu, Nguyễn Khoa Điềm cũng đã đóng một vai trò quan trọng.

Mong rằng những chi tiết này làm rõ thêm chân tướng của Nguyễn Khoa Điềm, một tên tay chân thân tín của Lê Đức Anh và là một tên bán nước cho Tàu đang nằm trong Bộ Chính Trị của đảng cọng sản Việt Nam.


--------------------------------------------------------------------------------
[1] Ở đây xin mở một dấu ngoặc. Khi nhắc đến những vụ thảm sát tập thể tại Huế hồi Mậu Thân, báo chí thường nói đến hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, nhưng ít người nói đến Nguyễn Khoa Điềm. Khi được giải thoát khỏi nhà lao Thừa Phủ, hắn gia nhập ngay vào nhóm các hung thần Mậu Thân ở Huế. Căm thù những người đã tra tấn mình tại lao Thừa Phủ, cùng với tính “cộc” như đã nói ở trên trong việc bắn Nguyễn Đắc Xuân ngay tại văn phòng ban tuyên huấn thành uỷ Huế, Nguyễn Khoa Điềm không ngần ngại tàn sát những ai hắn cho là có liên quan đến “nguỵ quân”, “ngụy quyền” ở Thừa Thiên - Huế. Dù sao đi nữa, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân là những người lớn lên ở Huế, tính chất sắc máu và “căm thù giai cấp” cũng không thể nào “sâu sắc” bằng Nguyễn Khoa Điềm. Hơn nữa, Điềm khi đó được xem là cán bộ “chính qui” của Hà Nội, còn Phan, Tường và Xuân chỉ là cán bộ “tại chỗ” cho nên ý kiến của Nguyễn Khoa Điềm là ý kiến quyết định.

Ở thời điểm của năm 2005, khi chủ nghĩa Mác – Lê Nin đã bị phá sản trên toàn thế giới, khi Liên Xô và các nước cọng sản Đông Âu đã sụp đổ từ gần hai mươi năm qua, khi chế độ cọng sản Hà Nội đã lộ rõ tính chất bất nhân bất nghĩa dã man, thối nát đến cùng cực vậy mà Nguyễn Khoa Điềm vẫn “kiên trì” chủ nghĩa cọng sản, tư tưởng Mao Trạch Đông, thì thử hỏi gần 40 năm trước, khi còn là thanh niên và vừa mới ở trong nhà lao Thừa Phủ ra, thì lòng “căm thù giai cấp” của Nguyễn Khoa Điềm lên cao đến chừng nào, tính “sắc máu” của hắn đã được khích động như thế nào. Đến một lúc nào đó, Nguyễn Khoa Điềm phải trả lời trước nhân dân Thừa Thiên - Huế, nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới về vai trò của mình trong vụ thảm sát Mậu Thân 1968 tại Huế.

No comments:

There was an error in this gadget