Thursday, June 11, 2009

HUE- Cái Chết của Bác sĩ KRAINICK -Elje Vannema


Cái Chết của Bác sĩ KRAINICK

Elje Vannema

Nhóm nạn nhân dân sự ngoại quốc tại Huế lớn thứ ba là những người Đức. Sau bốn ngày chiếm thành phố, vào ngày mồng 4 tháng hai, ba người bận ka ki tới căn phòng của bác sĩ Krainick. Các người Đức cư trú một trong năm căn nhà tầng nhiều phòng ở của Đại học.


Dẫn đầu nhóm ba người là Lê Huy Chước. Trước đây y là một công nhân bệnh viện, công việc của y nhiều lúc do các bác sĩ Đức tài trợ. Bác sĩ Krainick, Discher, Alterkoster và bà Krainick đã ở Việt Nam nhiều năm. Discher là người tới sau cùng, mới hơn một năm. Các y sĩ này nổi tiếng không những ở bệnh viện mà cả ở trường y, rất được dân và sinh viên mến chuộng.


Dù công việc đa đoan và dù có sự chống đối của các đồng nghiệp người Việt và công chức chính quyền. họ đã tân trang lại phòng khám bệnh cùi và xây thêm một bệnh viện tâm thần. ông giám đốc bệnh viện đã nói với họ: "Tại sao các anh giúp những người đó? Bọn chung toàn là cộng sản cả".


Đã tám năm họ hoạt động ở vùng quê và trong các làng xã chung quanh thành phố, thường với sự trợ tá của các sinh viên thực tập. Tên tuổi của họ được nhiều người biết, ngay cả những người theo Mặt trận. Năm 1962 vợ chồng bác sĩ Krainick lập một phòng chẩn miễn phí 30 giường ở Đan Nghi, một địa danh sâu trong vùng đất Cộng sản kiểm soát ... Họ tới đó đều đều mỗi cuối tuần để chẩn bệnh, thường bị cộng sản chặn đường nhưng không bao giờ bị bắt "bởi vì mấy ông ấy đi giúp người".


Cách đây hai tháng tôi cố thuyết phục bác sĩ Krainick rời Việt Nam. Có nhiều (dấu hiệu bất an cho các tỉnh phía bắc. Trên một chuyến ra Huế và Quảng Trị trong tháng mười một, ông mời tôi đi Đan Nghi để xem công việc phòng chẩn của ông. Khi rời Quảng Trị trở về tôi lọt vào một ồ phục kích. Một thiếu tá và một trung sĩ Mỹ từ hướng đối diện tới bị tử nạn. Như một phép lạ tôi và người y tá trợ lý may mắn thoát thân. Tôi báo cáo cho bác sĩ Krainick biết mình đã không tới Đan Nghi được, đồng thời cho ông hay có nhiều chuẩn bị ngấm ngầm cho một cuộc tấn công vào thành phố. Một lần nữa tôi thúc ông rời Huế.


Chúng tôi ở lại Quảng Trị hai ngày với các linh mục Việt Nam ở Nhà thờ chính toà. Các vị này cũng xác quyết như tôi. Nhờ có liên lạc mật thiết với dân chúng nên họ có nhiều nguồn tin và dữ kiện. Tôi gặp lại bác sĩ dân chót dịp cuối tháng mười một tại Đà Nẵng. Một dân nữa tôi nhắc nhở ông về cảm giác bất an sắp tới. Tôi bảo ông đã phục vụ khá đủ cho Việt Nam rồi, giờ nên hồi hương nghỉ ngơi. Nhưng ngoài tư cách là một thầy thuốc và giáo sư, ông còn là một con người rất mẫn cảm với một ý thức nghề nghiệp không ai sánh được. ông cho hay ông muốn đi nhưng bà vợ muốn ở lại. Đợi niên học hết thì hai ông bà sẽ trở về. Trước khi chia tay, tôi lặp lại quan điểm của tôi. Rồi chia tay. Tôi nhìn ông bước đi, cảm thấy bất lực vì không giúp được gì ông, nhưng nghĩ rằng đây là lần gặp cuối.


Ngày định mệnh ấy. mồng 5 tháng hai, du kích và nằm vùng địa phương của Mặt trận lại tới. Lần này với chiếc xe buýt nhỏ hiệu Volkswagen, có hai bộ đội miền Bắc đi cùng. Thoạt tiên họ hỏi tìm một giáo sư người Việt, người mà hôm trước đó đã bảo với họ rằng đây chẳng còn người ngoại quốc nào nữa. Đoạn tiến ngay lên lầu nơi các người Đức ở. Họ bắt ba bác sĩ đi, để bà Krainick ở lại, nhưng bà quyết theo chồng. Bác sĩ Discher và Alterkoster thì chẳng phản đối gì. Đám đông dân tụ lại trên sân cỏ bao quanh toà nhà. Họ biết rõ các "tù nhân", những người họ không những tìm tới ở bệnh viện, mà thỉnh thoảng vẫn đến thăm tại nhà. Họ biết cuộc đời của những người kia chỉ có phục vụ nhân loại một cách vô vị lợi, dạy học và cứu vớt người bệnh. Bao nhiêu năm liên tục những người đó dạy sinh viên y khoa, chạy tiền nuôi bệnh viện, xây bệnh xá tâm thần và phong cùi, mở bệnh xá thí ở vùng quê cách thành phố 30 dặm. Bác sĩ Krainick được mọi người yêu mến và kính phục. ông làm việc tại Việt Nam đã gần 10 năm. Giờ thì đám đông chỉ biết đứng đấy nhìn xem, bất lực. Mặt tái xanh khi thấy ba bác sĩ và bà Krainick bị dẫn đi. Rồi họ tan hàng trong im lặng. Ai nấy âm thầm rút vào nhà mình, âu lo không biết bao giờ tới phiên mình ...


Các bác sĩ đều là người công giáo và họ đã đến Việt Nam dưới thời ông Diệm. Sau khi ông Diệm bị lật đổ họ được khuyên nên rời xứ, nhưng lại dược mời sang ngay sau khi tình hình lắng dịu. Trong thời gian nổi dậy của các phật tử, bà Krainick có lần tham gia biểu tình chống lại các nhóm này và người ta nói là bà đã một hai lần tố giác cộng sản.


Bác sĩ Alterkoster quen biết ông trưởng ty cảnh sát và cũng đã tham gia biểu tình chống lại các cuộc xuống đường của các "Uỷ ban Tranh đấu Phật giáo". Bác sĩ


Discher, người tới sau cùng, và bác sĩ Krainick là hai người chẳng bao giờ nói tới chuyện chính trị. Bác sĩ Discher vừa đưa vợ con về Đức và mới trở lại Việt Nam trong tháng giêng 1968. Khi tới Hàng không Việt Nam đặt vé đi ngày 24 tháng giêng, người ta khuyên ông chớ nên ra Huế, vì tình hình không ổn. Nhưng ông cho hay ông phải có mặt với sinh viên, cho dù lúc đó còn đang là mùa nghỉ hè. Hàng không Việt Nam không bay. ông liền sang đi nhờ máy bay Mỹ ra Huế.


Những người bị bắt được đưa về Chùa Từ Đàm phía nam thành phố. Ngày hôm sau chuyển tới Chùa Tăng Quang, rồi tới một chùa nhỏ có tên là Tường Vân. Chùa này được bao bọc bởi vài căn chòi, nằm cách Tăng Quang độ một dặm. Cha Châu, một linh mục công giáo làm việc với tôi hồi còn ở trường Pelletier, ngày mồng 6 tháng hai được yêu cầu chuẩn bị "thúc ăn Mỹ" cho các bác sĩ Đức. Ngày 7 tháng hai, một ký giả Đức theo chân các thành viên của Tổ chức Cứu trợ Công giáo (ICC) cố vào tìm các bác sĩ tại căn nhà họ ở trước đây, nhưng bị lính Mỹ cản. Ngay cả vào để dọn đồ cũng không được phép. Tôi bước tới cách nhà độ 15 mét thì một anh lính Mỹ chĩa súng vào người và nói "Ông kia... quay ra". Khi tôi bảo là tôi có quyền vào nhận diện dấu vết những gì đã xây ra, thì anh lính lầy súng bảo tôi đi. Họ bận rộn khiêng vác bàn ghế, tranh ảnh và một tấm gương ra khỏi nhà. Mãi tới đầu tháng tư thì Anh, một sinh viên y khoa, được một vị sư có tên là Châu báo cho biết có một ngôi mộ trong miếng đất nằm giữa cây cối, cách Chùa Tường Vân nửa dặm về phía nam. Anh và hai sinh viên nữa tới đó vào chập tối. Quá trễ nên ngày hôm sau quay lại, đào xác các thầy mình lên và chuyền về Sài gòn để hai bác sĩ người Pháp nhận diện. Vê sau bác sĩ Le Hir cho tôi hay có nhiều vết thương nơi đầu và mình, nhưng vết thương kết liễu là viên đạn xuyên qua đầu và ót Tháng năm, Toà đại sứ Đức ở Sài gòn chính thức thông báo là các công dân của họ bị hành quyết.


Họ bị giết tại chỗ hay ở Chùa rồi được chuyển ra đây? Tại sao mồ họ được tìm thấy quá trễ như thế ? Quân cộng hoà đã tái chiếm vùng này từ ngày 26 tháng hai. Thế tại sao không người lính nào để ý tới mộ này trong khi vị sư đã biết nó từ lâu ? Chùa Tường Vân có kiến trúc đẹp. Nó không bị phi sơ chút gì, trong khi ngôi chùa nhỏ hơn nơi giam giữ các bác sĩ và vùng chung quanh bị phá nát bới bom đạn suất trong thời gian từ 21 tới 26 tháng hai. Các nạn nhân ở đâu khi chiến trận xây ra ? Dân làng ở gần Chùa bảo không hay biết chi cả. Tôi hỏi bằng tiếng việt một ông 50 tuổi khi hai người đứng một mình trên đống gạch đổ nát của Chùa thì ông ta tỏ ra ngập ngừng rồi im ngay. Ông chỉ sang bà già nhà bên. Bà này, cô con gái đứng tuổi của bà và một cô gái trẻ với đám con trả lời rằng họ nằm miết dưới hầm nên không hay biết gì cả. Có lẽ họ không hay biết gì thật. Mà cũng có thể họ biết nhưng không muốn bị phiền lụy bởi chính quyền hoặc Mặt trận. Có thể, Mặt trận răn đe họ phải im. Sau này Sư Châu kể rằng một trong các chú tiểu của ông thấy người ta đào hố và nghe thấy tiếng súng. Ngày hôm sau chú đi ra xem. Quá sợ nên mãi mấy tuần sau mới dám hé môi.


Bị bắn sát từ sau gáy và đầu nên xương mặt họ một phần bị bung ra - đó là số phận dành cho họ. Ngày 13 tháng tư hài cốt của họ từ biệt Việt Nam. Linh cửu được đưa ra phi trường trên chiếc xe do bốn ngựa kéo. Theo sau là 250 sinh viên y khoa Huế và Sài gòn, đội đưa tang và đội quân danh dự của Quân lực việt Nam Cộng Hoà. Sinh viên cầm biểu ngữ nói lên lòng biết ơn công lao các bác sĩ. Một biểu ngữ ghi: "Đại học Huế không quên các giáo sư người Đức" . Trước khi linh cửu được đưa lên máy ban, nghi lễ tiễn biệt diễn ra thật cảm động. ông Trân, Thứ trưởng Bộ giáo dục kỹ thuật và cao đẳng phát biểu: "Bao nhiêu năm tôi đã tham dự nhiều buổi lễ ghi nhớ các anh hùng hy sinh cho Tổ quốc, nhưng chưa bao giờ cảm động như hôm nay khi tiễn biệt những người dân sự này đã chết cho lý tưởng cao cả vì tha nhân và nhân loại".

Lịch sử còn đó… (1)
Ngày: 16-06-2006
Đề tài: Lịch Sử


“L’histoire est vraie, mais la vérité est partielle: Nous pouvons savoir des choses sur le passé humain, nous ne pouvons savoir le tout de ce passé”
H. Marrou, sử gia.


Nguyễn văn Lục


Ngày mồng 8 tháng 5, năm 1963. Ngày đáng ghi nhớ. Ngày mở đầu cho biến cố Phật Giáo miền Trung 1963. Trong ngày đó, vào khoảng 10 giờ 30 tối, có cả thảy 8 em vô tội đã bị thảm sát tại Đài phát thanh Huế. Xin được nhắc lại một lần tên các em. Đó là Nguyễn Thị Ngọc Lan, 12 tuổi, 1951. Huỳnh Tôn Nữ Tuyết Hoa, 12 tuổi, 1951. Nguyễn Thị Phúc 15 tuổi, 1943. Lê Thị Kim Khanh 17 tuổi, 1948. Trần Thị Phước Tự, 17 tuổi, 1946. Nguyễn Thị Yến, 20 tuổi, 1943. Nguyễn Văn Đại 13 tuổi, 1950 và Đặng Văn Công 13 tuổi, 1950.

Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu (11/6/1963)
Nguồn: lib.berkeley.edu
Sau cuộc thảm sát Đài phát thanh Huế tiếp theo cuộc tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức, 66 tuổi ngày 11/6/1963 tại ngã tư Phan Đình Phùng, Lê Văn Duyệt Sàigòn.

Hồi chuông báo tử đã dóng lên cho một chế độ.

Dư luận thời đó và ngay cả hiện nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng vụ thảm sát tại đài phát thanh Huế là do xe tăng của Thiếu Tá Đặng Sĩ đã cán chết các em. Và người trực tiếp trách nhiệm vụ thảm sát này không ai khác hơn là Đặng Sỹ? Và người đứng đằng sau có thể là ông Ngô Đình Cẩn hoặc Tổng giám mục (TGM) Ngô Đình Thục?

Riêng ông Ngô đình Cẩn, trước khi chết có tâm sự với luật sư Võ Văn Quan là ông không có ra lệnh cho Đặng Sỹ giết trẻ em trước đài phát thanh? Thế thì còn lại TGM Ngô Đình Thục? Theo Linh mục (LM) Cao Văn Luận, trước khi lm Luận lánh mặt ra ngoại quốc có đến từ giã TGM Thục và TGM Thục tỏ ra chẳng có ưa gì về vụ biến động Phật giáo cả.

Cần có một câu trả lời cho cái chết của các trẻ em vô tội chết không toàn thây trước cửa Đài phát thanh Huế? Và nếu người ta thật sự thương xót các em thì cho đến nay ít ra cũng có cái gì đó, một cái miếu, cái cột, cái bảng, một hòn đá cũng được, hay một miếng gỗ. Ai dám nghĩ đến cái điều tưởng như tầm thường ấy?

Viết bài này, tôi cũng không quên được chính mình cũng là thế hệ thanh niên trí thức ở thời kỳ đó. Tôi vẫn nghĩ rằng thắc mắc của tôi là chính đáng.

Bài viết có hai phần, phần đầu, chọn lựa dựa trên các lời viết của các nhân chứng hàng đầu trong biến cố đài phát thanh Huế. Phần hai, duyệt xét lại vụ án thiếu tá Đặng Sỹ để xem ở thời điểm ấy, vụ án đã được xét xử như thế nào?

1. Trích dẫn về những chứng từ trong đêm 08 tháng 05 năm 1963, tại đài phát thanh Huế.

Những chứng từ sau đây của các nhân chứng hầu hết nhìn tận mắt cho thấy một sự việc đã được nhìn, được thấy như thế nào? Người viết ghi những chữ, những câu viết nghiêng để độc giả dễ theo dõi sự dị biệt giữa các nhân chứng.

a. Chứng từ của ông Nguyễn Khắc Từ, Huynh trưởng gia đình Phật Tử, người đã có mặt từ đầu đến cuối bên cạnh Thượng Tọa Trí Quang. Ông viết “Một chiếc xe mang tên Ngô đình Khôi cán bừa lên cả người đồng bào. Vài tiếng thét ghê rợn. Mặc kệ, họ cứ tiến vào đám quần chúng. Giữa lúc ấy, 3 tiếng súng lục chát chúa khô khan vang lên, và lựu đạn cay tung ra tứ phía. Từng loạt súng liên thanh và một tiếng nổ kinh hồn rung chuyển cả đài phát thanh. Tiếng súng vẫn nổ. Trong đài, chúng tôi vào ẩn trong trong phòng hoà âm gồm các Thượng Tọa, Đại Đức, ông Tỉnh trưởng và một số chúng tôi.” (Trích trên web Giao Điểm, Giao Điểm trích từ tạp chí Liên Hoa, số ra ngày 15 tháng 1965, Sàigòn.)

Nhận xét: Cứ như ông viết, lúc xảy ra có tiếng nổ, ông ở trong đài và ẩn trong một phòng hoà âm cùng với các Thượng Tọa, Đại Đức. Vậy bằng cách nào, ông có thể nhìn thấy cảnh xe tăng tiến vào với ba tiếng súng lục nổ. Đặc biệt, ông là một trong những nhân chứng nói đến lựu đạn cay tung ra tứ phía.

Bằng vào lời của nhân chứng, các nạn nhân chết vì ba nguyên nhân: vì xe tăng cán, vì tiếng nổ kinh hồn và đạn đại liên.

b. Chứng từ của Nguyễn Lang (tức Thiền sư Nhất Hạnh), cuốn 3 của Bộ Việt Nam Phật giáo sử luận.

“Thiếu tá Đặng Sỹ, Phó tỉnh trưởng nội an và Tiểu khu trưởng Thừa Thiên, huy động lực lượng thiết giáp Bảo An, đại bác quân cảnh, hiến binh và cảnh sát thành phố tới vây quanh đám quần chúng mà họ gọi là đám biểu tình..

“Thiếu Tá Đặng Sỹ ra lệnh bắn đạn mã tử khiến đám đông náo động. Lựu đạn cay, lựu đạn nổ được tung vào. Đồng thời súng trường và xe thiết giáp chận lại. Khi thiền sư Trí Quang và ông Tỉnh trưởng từ trong đài phát thanh ra tới thì máu đã đổ: 8 người thiệt mạng vì lựu đạn và 4 người bị thương. Xe thiết giáp cán vỡ đầu một thiếu nhi, sọ em nát vụn. Một thiếu nhi khác bị cán mất nửa đầu và một em khác mất hẳn nửa đầu. Xe Hồng Thập tự được gởi tới để mang những người bị thương về bệnh viện.

Nhận xét: Không hiểu tại sao lại đổi chức vị của thày Trí Quang là thiền sư? Đổi như thế nghe thấy lạ tai quá. Quân cảnh không có mang đại bác? Chắc là pháo binh? Một chi tiết khá quan trọng: Thày Trí Quang và ông tỉnh trưởng chỉ ra khỏi đài phát thanh khi máu đã đổ. Chi tiết này phản lại lời tường thuật của chính người trong cuộc là thày Trí Quang ở phần sau. Thày TQ và ông Tỉnh trưởng đứng ở bên ngoài đài và đang phủ dụ đám đông thì xảy ra biến cố. 8 người chết vì lựu đạn, rồi lại chết bị xe thiết giáp cán. Như vậy giả thiết là các em bị bắn chết, rồi xe thiết giáp cán thêm một lần nữa? Một em bị cán mất nửa đầu và một em khác mất hẳn nửa đầu thì có gì khác nhau?

Xin ghi nhận thêm: Nguyễn Lang, trong phần ghi chú XXXV111 của bộ Việt Nam giáo sử luận, tập 3 có cho rằng Bác Sĩ Lê Khắc Quyến bị ép buộc nên phải ký biên bản như trên. Thiền sư Nhất Hạnh cũng là người đứng ra mời một Uỷ ban Liên Hiệp Quốc đến VN điều tra về vụ Phật Giáo.

Về nội dung bản phúc trình của bác sĩ Quyến, người viết cũng thấy mổi người nói mỗi khác. Ra đến tòa án, Bác Sĩ Quyến vẫn giữ lời khai mà nội dung như sau: Không rõ chất nổ, nhưng không phải là do lựu đạn hoặc chất Plastic. Không bằng lòng về nội dung những bản phúc trình này, người viết có liên lạc với hai con trai của Bác sĩ Lê Khắc Quyến, quý anh LKT và LKH. Nhưng cũng không giúp thêm gì trong việc làm sáng tỏ điều này.’’ Rất tiếc, tôi không giúp được nhiều vì do chỉ là những gì được nghe nói, không có bằng chứng cụ thể’’

c. Chứng từ của Bác sĩ Erich Wulff

Phỏng vấn giáo sư Erich Wulff của báo Liên Hoa, số Đặc biệt Phật Đản, ngày 26 tháng 5- 1964. (trích lại trên Giao Điểm). Cuộc phỏng vấn này xảy ra khi bác sĩ người Đức này trở lại thăm Việt Nam.

“Đêm 8-5-1963, tôi và anh Tôn thất Kỳ, sinh viên y khoa của tôi có đến xem cuộc lộn xộn trước đài phát thanh Huế. Khi chúng tôi vừa đến thì điều làm chúng tôi hốt hoảng là một loạt súng chát chúa vang lên. Liền đó, xe thiết giáp kéo đến, tôi thấy rõ ràng có một chiếc xe mang tên “Ngô đình Khôi” có gắn súng 12-7, chĩa nòng súng vào phía dân chúng đang tụ tập nhốn nháo quanh đài phát thanh. Tôi đang bỡ ngỡ thì lại nghe tiếng nổ rất lớn. Rồi nhiều tiếng nổ khác tiếp theo.

Tiếp theo, ông đến nhà xác “Tôi thấy một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp, 7 cái xác chết tan hoang, nhưng còn có thể nhận ra được, kẻ bị văng óc vỡ đầu, kẻ thì thân xác nát bấy, máu thịt đất cát cùng với óc não lẫn lộn be bét, còn một cái xác khác thì hoàn toàn tan nát từng mảnh không sao nhận ra được. Xem xét các xác chết, tôi thấy có ba xác bị bể sọ, quan sát kỹ chắc là do đạn (cỡ súng lớn bắn ). Mà chắc là do súng cỡ lớn trên xe thiết giáp NĐK bắn. Đạn này làm bay cả sọ, văng óc ra ngoài.

Kết luận ông đáp: Vì tôi đã tận mắt chứng kiến cuộc thảm sát ở Đài phát thanh Huế, tôi vô cùng xúc động trước sự đàn áp dã man này nên tự thấy có bổn phận ủng hộ cho cuộc đấu tranh”

Chứng từ thứ hai của Bác sĩ Erich Wulff, giáo sư Đại học Y khoa Huế, từ 1961-1967. bài trích dịch từ cuốn Vietnamesische Lehrejahren, 1972, từ trang 129-142, trích lại trên trang Giao Điểm và cũng trên Khuông Việt, 2003 trong bài Những tháng ngày không quên của Thái Kim Lan. Giữa bài phỏng vấn và bài trích trong sách của ông bác sĩ người Đức có nhiều chi tiết khác nhau lắm.

“Tôi bỗng nghe một người nào đó gọi tên tôi. Đó là Tý, một người học trò của tôi. Tý hỏi tôi muốn đi cùng đến nghe phát thanh lại bài nói chuyện sáng hôm nay của Thích Trí Quang, bài này sẽ được phát đi trong vòng vài phút nữa và sẽ được truyền ra bên ngoài bởi những loa phóng thanh đặt trước cửa đài.

Vài phút sau đó có tiếng ầm ầm của một đoàn xe thiết giáp. Có tất cả 5 xe thiết giáp xuất hiện. Một chiếc tìm cách đi thẳng vào khuôn viên của đài phát thanh. Nó dừng lại chỉ cách Tý và tôi vài bước mà thôi. Và rồi những phát đạn đầu tiên được bắn ra từ nòng súng cà nông của xe thiết giáp, chúng tôi nghe khoảng 10 phát súng nổ kêu vang và khô khan. Tôi có thể nhìn thấy rõ ràng đầu ngọn lửa phát ra từ họng súng của hai chiếc xe án ngự nơi bồn tròn nằm phía đầu cầu Trường Tiền. Sau đó một loạt súng trường bắt đầu nhả đạn. Sau đó, tôi đã gặp Paul Miller, một người Mỹ còn trẻ làm việc trong văn phòng trường đại học. Anh ta kể rằng “họ đã đi qua đây”. Thiếu tá Đặng Sỹ, người cầm đầu đoàn quân đã bảo anh ta phải biến mất đi. Sắp có màn phải giết người, vì ông ta đã nhận được lệnh của cấp trên đến dẹp tan vụ bạo lọan tại đài phát thanh với bất cứ giá nào”.

Sau đó, bác sĩ Wulff được một người y tá dẫn vào cổng sau nhà xác. Tai đây, ông ghi nhận như sau “Không có ánh đèn điện. Dưới ánh sáng yếu ớt của đèn bạch lạp, chúng tôi thấy có 7 thân người đầy máu me được đặt trên ba bàn khám nghiệm bằng đá. Từ chân đến ngực, thân thể họ còn nguyên vẹn. Nhưng năm cái xác, tất cả là trẻ em, thì không còn đầu. Nơi một người phụ nữ thì có những vết đạn bắn vào cánh tay, vai và cổ. Các xe thiết giáp đã bắn nát đầu các em thiếu nhi, có lẽ vào lúc các em leo qua hàng rào của đài phát thanh và nhô đầu ra trước. Nếu như các em khôn ngoan như người lớn, tức là nằm xuống dưới đất lúc súng đạn bắt đầu nổ thì có lẽ các em đã không hề hấn gì.

Khi về đến cư xá giáo sư đại học, tôi vội bước đến phòng của Giáo sư Krainick. Tình cờ lúc đó bà Krainick đang đọc vào máy ghi âm bức thư gia đình hỏi thăm các người con. Trong sự hốt hoảng lúc bà và ông chồng nghe tôi kể lại những biến cố vừa xảy ra, bà đã quên tắt máy. Cuộn băng ghi âm này đã được dùng làm bằng cớ vào tháng 09-năm 1963 trước Ủy Ban Việt Nam của Liên Hiệp Quốc, kèm theo với lời khai danh dự chứng thật nguyên bản của giáo sư Krainick.”

Nhận xét: Có lẽ những chứng từ của giáo sư người Đức được coi như có giá trị khả tín nhất, vì ông là người ngoại quốc. Đối với một số Phật tử thời đó, ông chẳng những là một nhân chứng hàng đầu mà còn l người ân nhân số một của biến cố 1963. Vào ngày 14/4/1964, ông E. Wulff được tiếp đón nồng nhiệt khi trở lại Huế sau ngày đảo chính. Người ta đã dành tất cả cái vinh dự ấy cho ông như một người bạn của Huế. Ông đã được các Thượng Tọa Thích Trí Quang và Hoà Thượng Thích Đôn Hậu đón tiếp với hàng rào người đứng hai bên. Vì vậy, ông mới được mời ra làm nhân chứng vào tháng 9-1963 với cuốn băng ghi kể lại biến cố với ông bà GS Krainick, trước Ủy Ban VN của LHQ. Nhưng thử so sánh hai bài tường thuật của ông xem sao.

• Thứ nhất: Có một sự lầm lẫn, nếu không được giải thích sẽ gây ra hiểu lầm. Có lúc ông nói là Tý có lúc là Tôn Thất Kỳ. Có sự khác biệt đổi tên như thế vì Tôn Thất Kỳ không muốn để lộ tên mình ra nên ông Wolff đã phải gọi tránh ra như thế.

• Thứ hai, ông viết khi vừa đến thì đã nghe một loạt súng, liền sau đó xe thiết giáp kéo tới. Chắc ông viết lầm, phải đợi xe thiết giáp tới rồi mới bắn được?

• Thứ ba, ông còn có thể nghe và đếm được có khoảng 10 phát đạn bắn đi. Cái này phải hỏi chuyên viên vũ khí, có thể đếm được đạn đại liên bắn đi không? Có chỗ ông viết: nhìn thấy 5 xe thiết giáp tiến tới rồi nhả đạn. Thật sự trong cái tình thế căng thẳng và có thể đi đến rối loạn, thật khó có thể có những ghi nhận thật chính xác được. Những trắc nghiệm tâm lý đưa ra những hoàn cảnh giả (simulation), rồi yêu cầu được trả lời đã nhìn, nghe, nhớ gì. 90 phần trăm người được trắc nghiệm đã không thể trả lời đúng như sự việc đã xảy ra.

• Thứ tư: Và nếu như lời ông tường thuật ở đoạn không trích ra đây, ông và Tý thấy tuần xa là bắt đầu sợ và rủ nhau nhảy qua hàng rào đài phát thanh, đứng sang bên kia đường để nhìn về phía đài. Khi có tiếng súng nổ thì còn chạy núp vô một đường hẻm gần đấy. Đọc đọan ông mô tả thì như thể ông là một quan sát viên, hay một quan khách, đứng bàng quan và bình tĩnh, đứng gần tuần xa có mấy thước, nghe và đếm được 10 phát đạn, thấy hết hiện trường. Tôi chỉ hỏi thật, ông đứng ở đâu? Tôi có đặt vấn đề về chứng từ của ông Wolff với một người bạn từng quen biết ông Wolff thì người ấy vẫn quả quyết 100% là ông Wolff nói thật, nói chính xác.

• Thứ năm: ông kể được nghe qua một người bạn tên Paul Miller cho biết gặp Đặng Sỹ và Đặng Sỹ cho biết phải biến đi, vì sắp có cảnh dẹp loạn và cảnh giết người. Cứ tin vào chứng từ của ông bác sĩ thì Thiếu Tá Đặng Sỹ đã được lệnh trước chẳng những dẹp lọan mà còn có bổn phận phải tàn sát dân chúng đi biểu tình. Chứng cớ này khá là quan trọng vì có sách lược tàn sát đồng bào Phật Tử tối hôm đó? Ông Wolff phải ra làm chứng về điều này và xác nhận lại một lần nữa câu nói của ông. Nếu ông xác nhận Đặng Sỹ có nói như thế thì thì vụ án Đặng Sỹ rất đơn giản vì có lời giải đáp. Rất tiếc, ông đã rời VN sớm hơn một tháng trước khi vụ án Đặng Sỹ được đem ra xét xử.

• Thứ sáu: theo ông các trẻ em bị thảm sát vì vượt hàng rào đài phát thanh cao khoảng 1m50. Như vậy, thay vì bị chết ở sát cạnh đài phát thanh thì nay chết ở hàng rào đài phát thanh. Đây là một vấn đề cần đặc biệt lưu ý. Chứng cớ này của ông không đứng vững được vì vi phạm luật hiện trường. Một điều vẫn ám ảnh tôi mãi. Tại sao nạn nhân chỉ là trẻ con và thanh thiếu niên? Nếu đạn đại liên bắn như thế thì chẳng những các em chết và người lớn cũng chết không miễn trừ?

• Thứ bảy: ông là người thứ nhất, trước cả bác sĩ Lê Khắc Quyến có đặc quyền được giảo nghiệm xác chết. Tôi có đem truyện này hỏi các bác sĩ thì họ cho rằng nếu không phải bác sĩ chuyên môn về giảo nghiệm tử thi ( médecin légiste) thì không đủ tư cách để có thể xem xét và quyết đoán về các vết thương. Họ không thể nào xác định được một vết thương do đạn, hay do chất nổ? Về điểm này có thể nói rằng cho dù có chứng tử giảo nghiệm đi nữa, không bị cưỡng buộc đi nữa, chừng từ đó cũng khó có sự giảo nghiệm kỹ càng và chính xác. Một bác sĩ thường, không chuyên ngành, không có cách gì phân biệt được một vế thương do chất nổ lựu đạn hay plastic, hay do đầu đạn vv.. Thật không dễ đâu? Dầu vậy thì đây là một bằng chứng vô cùng quan trọng, bởi vì trong nhiều trường hợp, nhân chứng duy nhất có thể truy lùng ra tội phạm lại chính là xác chết. Xác chết biết nói, biết tố cáo. Mặc dù ông không phải bác sĩ chuyên khoa về giảo nghiệm xác chết, mặc dù dưới ánh nến lù mù không soi sáng đủ và mặc dù thời gian chắc cũng không cho phép ông ở lâu để giảo nghiệm, đo đạc các vết thương sâu hay rộng để biết đích xác vết thương do chất nổ gì gây ra. Ông đã khẳng định là: quan sát kỹ, ông cho rằng chắc là do đạn đại liên bắn ra làm bay cả sọ và văng óc ra ngoài. Ông còn ghi thêm là do chiếc xe có bảng hiệu Ngô Đình Khôi bắn ra nữa. Có lúc ông nói có 5 xác bị bắn nát đầu văng óc, nhưng từ chân đến đầu còn nguyên vẹn. Đọan sau, ông nói ngược lại là 7 xác chết tan hoang, nát bấy, hoàn toàn nát bấy. Còn nguyên vẹn và nát bấy đã hẳn phải khác nhau? 5 xác và 7 xác đã hẳn cũng khác nhau? Quý vị không tin cứ việc đọc lại. Không thể giảo nghiệm khơi khơi thế được? Chắc ông chưa từng được xem Bao Công xử án.

Kết luận: các nạn nhân chết là do đạn đại liên từ xe thiết giáp Ngô Đình Khôi bắn ra.

Hai bản văn mà nội dung do một nhân chứng viết lại có nhiều chỗ phản lại nhau từng chi tiết một, không có chi tiết nào trong hai bản văn giống nhau đến độ có cảm tưởng do hai nhân chứng viết lại chứ không phải một người.

(Còn tiếp)

Copyright © 2006 DCVOnline

Kỷ niệm 40 năm Mậu Thân: sân khấu của những oan hồn

Đăng bởi Quản trị on Tháng Hai 7, 2008

Blog Chứng Nhân Lịch Sử

Trong sự dè dặt và bộc lộ cả sự ngại ngùng của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kỷ niệm 40 năm cái gọi là chiến thắng Mậu Thân 1968. Điều này có thể thấy rõ trên các băng-rôn khẩu hiệu hay các bản tin thời sự của hệ thống truyền thông nô dịch thuộc Nhà nước.

Thậm chí vào ngày 1.2.2008, cuộc duyệt binh và loạt chương trình kỷ niệm 40 năm Mậu Thân cũng được tổ chức vội vàng trong khuôn viên Dinh độc lập, Saigon với hơn 8000 người, chủ yếu là các cán binh và bộ đội. Các lãnh đạo cấp cao nhất người Miền Nam là Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Minh Triết đã không có mặt trong lễ hội này mà chỉ có Nông Đức Mạnh và tay sai phe Cộng sản miền Bắc là Lê Thanh Hải lên đọc diễn văn. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu là Dũng và Triết không muốn chuốc họa vào thân trước sự căm hờn của hàng triệu người dân miền Nam đã từng chứng kiến cuộc thảm sát này và nuôi căm hờn trong suốt 40 năm qua.

Cuộc chiến của 40 năm trước, khi những người Cộng sản miền Bắc bội ước, tấn công vào dân thường và thảm sát đồng bào của mình trên 40 tỉnh lỵ, thành phố miền Nam, đã là một vết nhơ không bao giờ rửa sạch. Cho dù ngày hôm nay Dũng có đứng trên bục của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hay Triết có mỉm cười kêu gọi tình đồng bào khắp năm châu, ai cũng có thể thấy thấp thoáng trong chiếc khăn tay đỏm dáng mà họ dắt trên túi áo, mùi tanh của xác hàng ngàn người bị chôn sống hay bị bắn vào lưng với đôi bàn tay bị đâm xuyên và nối hàng dài với nhau bằng dây kẽm.

Ngày mồng một Tết, lẽ ra là ngày chờ đón năm mới với sự bình an. Nhưng từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, lời khấn nguyện của hàng triệu người cho một năm mới đến, còn là lời cầu siêu cho những linh hồn đã bị cộng sản thảm sát trong ngày linh thiêng nhất của dân tộc. Đặc biệt với Huế, hãy thử nghĩ xem sẽ có bao nhiêu oan hồn có thể siêu thoát suốt 40 năm nay?

Và chắc chắn, xin đừng quên những kẻ chỉ điểm và chịu một phần trách nhiệm cho món nợ lịch sử này, đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân, những kẻ tôi tớ của Đảng, đã không còn nhân tính. Bản án vẫn treo lơ lửng và chờ họ, một ngày. ( http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=AJTiSJhFe4Ifap8RXEvayg%3d%3d )

Cộng sản Bắc Việt thắng lợi chăng? Lịch sử ghi rõ rằng hàng trăm ngàn quân bị đánh bật ra khỏi toàn bộ miền Nam, đẩy lùi tận vĩ tuyến 17, số chết hơn 45.000 quân chính quy và mất gần 2 năm sau mới gượng tái lập được các hệ thống tình báo, nằm vùng trong miền Nam. Một thống kê khác, được chính Đảng Cộng sản vô tình tiết lộ trên đài truyền hình VTV, trong một cuộc phỏng vấn với đại tá – nhà văn Chu Lai cho thấy tổng số thiệt hại quân lực của Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng Miền Nam có thể lên tới 90.000 quân. Nhưng những dữ kiện đó, các nhà lãnh đạo miền Bắc không bao giờ dám nhắc tới. Hèn hạ không dám nhắc tới.

Đã từng có nhận xét rằng trong những cuộc chiến với người Cộng sản, mọi đối thủ đều không thể cạnh tranh với họ về số người chết. Để đạt được mục đích, Cộng sản không hề thương tiếc sinh mạng của binh lính, càng không cần phải thương tiếc mạng sống của thường dân. Hàng đoàn xe GMC chở xác lính Bắc Việt rời khỏi đô thành Sài Gòn năm 1968 và những nấm mộ tập thể được khai quật sau đó tại Huế chính là tiếng thét uất hận của những linh hồn người Việt trong suốt 40 năm qua, trở thành tiếng gầm gừ trong cổ họng người còn sống.

Thói nói láo và bản chất vô ơn với chính những người hy sinh cho cuộc chiến của mình đã khiến nhà nước Cộng sản Việt Nam chỉ thuần ca ngợi, thậm chí bỏ qua cả chi tiết ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản (trong thời gian đó đang bị Lê Đức Thọ tiếm quyền) đã ngã bệnh khi nghe tin cuộc thất bại đầy máu này, dẫn đến cái chết vì suy sụp vào ngày 2.9.1969, tức một năm sau đó.

Huế đã trờ thành một ký ức lịch sử của toàn thế giới về tội ác của Cộng sản Việt Nam. Chỉ trong vài ngày chiếm đóng Huế, Cộng sản Bắc Việt đã giết chết gần 3000 dân thường và nhân viên hành chính quốc gia miền Nam. Trong bài viết của mình trên tờ Ottawa Citizen (*), ngày 3.2.2008, ( http://www.canada.com/ottawacitizen/news/business/story.html?id=2dff9de0-a123-4f6f-818d-16d3ea347a6b ) ký giả David Warren đã nói rằng câu chuyện của Huế năm 1968 là một “Hội chứng Việt Nam” dành cho những ai còn nghi ngờ về tâm địa dã thú của Chủ nghĩa Cộng sản. Trong bài viết với ký ức đầy những oan hồn, kể cả những người ngoại quốc, David Warren đã kể lại rằng: “Sáu tuần lễ sau đó, thi thể của các bác sĩ Alois Altekoester, Raimund Discher, Horst-Guenther Krainick, và bà vợ của bác sĩ Krainick là Elisabeth, đã được tìm thấy tại các nấm mồ lộ thiên mà họ đã bị buộc phải tự đào lấy cho chính mình”.

“Rồi thì nhiều ngôi mộ tập thể khổng lồ của phụ nữ và trẻ em được tìm thấy. Hầu hết đều bị đập vỡ đầu cho đến chết, một số thì bị chôn sống; quý vị có thể nhận biết điều này từ các bàn tay được cắt, đánh bóng và sơn móng thật đẹp đẽ của các phụ nữ cố gắng cào bới để chui ra khỏi các nơi họ bị chôn sống”.

Năm 2008, kỷ niệm 40 năm thảm sát Mậu Thân. Chính các nhà lãnh đạo Cộng sản khi nâng ly chúc mừng thời chiếm đóng và cai trị của mình, cũng nên tự hỏi rằng có bao nhiều người sẽ cầm đá ném vào mình từ nỗi uất hận Mậu thân 1968, nếu chính quyền của họ sụp đổ? Chắc chắn sẽ không ít. Sân khấu của cuộc kỷ niệm 40 năm tội ác bị che giấu đã mở màn, hàng ngàn những oan hồn đang yên lặng nhìn và chờ đợi ngày mà những người lãnh đạo Cộng sản Việt nam bước tới.

THÙY TRÂM
CHỨNG NHÂN LỊCH SỬ


Nguyễn Văn Lục


No comments:

There was an error in this gadget