Wednesday, September 30, 2009

HGTLT- Phật Giáo Ấn Quang: Tội Bất Dung Tử



Audio

Phật Giáo Ấn Quang: Tội Bất Dung Tử



Hàn Giang Trần Lệ Tuyền


« Tội bất dung tử », đó là lời của cổ nhân đã dạy, thì quả đúng, chẳng hề sai, đối với những tên mà đôi tay đã nhuộm đầy máu của đồng bào vô tội, thì bất kể là ai, và cho dù có bị xử chết, cũng không hề xóa hết được những tội ác mà chúng đã gây ra.


Lịch sử đã chứng minh: Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, đã cho mọi người trên quả địa cầu này thấy một cách rất rõ ràng: đã có biết bao nhiêu tên tội phạm, đã từng giết nhiều người vô tội, dù cho có bị bêu đầu, treo cổ, nhưng mãi mãi vẫn còn bị người đời nguyền rủa.


Riêng tại Việt Nam, kể từ khi tôi đã đủ trí nhớ, vào một thuở thanh bình, của những năm đầu tiên của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Thời kỳ ấy, đối với tôi là những tháng năm êm đềm nhất, tôi đã được sống giữa những tiếng cười, câu hát vang vọng giữa ngàn dâu. Thế nhưng, kể từ khi cái « Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam » đã ra đời vào ngày 20-12-1960. Và đó, cũng là lúc những người dân hiền hòa của quê hương tôi, đã phải sống và chứng kiến với những cảnh lữa khói ngút Trời, những tiếng khóc thay cho tiếng cười. Riêng tôi, không bao giờ quên được trong một lần chạy giặc, vào mùa hè 1972, lúc đó quận Tiên Phước đã bị Việt cộng đánh chiếm và kiểm soát hoàn toàn, nên mọi người phải cùng nhau chạy xuống thị xã Tam Kỳ, có người đã chạy ra Đà Nẵng, thì tại Núi Sấu, thuộc xã Phước Tiên, quận Tiên Phước, Quảng Nam; tôi đã nhìn thấy một người lính Nghĩa Quân, là một người chồng đang quỳ bên thân xác của người vợ đã bị trọng hương sắp chết, người vợ trẻ đã thì thào nói với chồng:


« Anh hãy mau mau bồng con chạy trốn đi, vì em biết rằng mình không sống được nữa, nếu anh cứ bịn rịn, thì cả vợ chồng và con cái phải đều chết hết, anh phải sống vì hai đứa con của mình ».


Trước cảnh tượng thương tâm ấy, thì những người cùng chạy giặc, cũng đều thúc hối anh phải nghe theo lời của vợ, vì anh và mọi người không ai có thể làm gì được khi chị ấy đã sắp chết. Vì thế, người lính Nghĩa Quân đã phải quỳ xuống đất bên xác vợ, và đã chắp hai tay mà cứ cắm đầu, cúi cổ lạy người vợ trẻ, lúc đó đã hôn mê, rồi anh được bà con dìu anh đứng dậy và đã tay bế, tay dắt hai đứa con thơ, đứa lớn là một bé trai chừng bốn tuổi, còn đứa nhỏ là một bé gái chưa biết đi. Anh đã bước đi trong nước mắt của anh hòa cùng tiếng khóc cảm thương của đồng bào. Tôi không biết, rồi sau đó, anh có còn tìm lại được nắm xương tàn của người vợ trẻ hay không, tôi cũng không biết giờ này anh đang ở nơi đâu? song hình ảnh ấy, nó đã khắc sâu trong tôi cho đến bây giờ, và mãi mãi.

Vậy, « Đoạn trường ai có qua cầu mới hay », nên tôi thiết tha xin những ai chưa hề nếm trải những đau thương, chưa hề là nạn nhân của những thảm cảnh tử biệt, sinh ly, và không chứng kiến với những màn đánh, giết người, dập đầu, treo cổ, còn ác độc hơn cả loài lang sói, thì xin hãy lặng thinh, trước những đớn đau của những người khác, hãy để cho những người đã từng sống từng đau khổ, họ được nói lên những điều mà nhiều người chưa biết.


Và chính tôi, tôi là một phụ nữ yếu đuối, song đã từng nếm trải hết những mùi tân khổ, đã sống qua những tháng năm dài trong đớn đau và đầy nước mắt. Chính vì thế, nên tôi đã thấu hiểu được những nỗi đau của những người đồng cảnh ngộ, thì giờ đây, tôi phải được nói, nói lên tất cả những tang thương của những đồng bào ruột thịt của tôi, tôi phải nói thay cho những người đã chết một cách tức tưởi, và những người còn sống với vô số những oan khiên, nhưng họ không thể cầm bút để viết lên được những nỗi đớn đau của chính mình. Tôi xin thành tâm để được nói, xin mọi người, trong đó có những người thân của tôi, nếu không muốn nói, thì cứ xem tôi là người xa lạ, chứ đừng nên trách móc gì tôi.


Tại sao tôi đã gọi: Tội ác của Võ Văn Ái: « Tổng thư ký Ban chấp hành Trung ương Phật giáo Việt kiều Hải ngoại » và Thích Nhất Hạnh, qua ngụy thư « Hoa Sen Trong Biển Lửa? »


Tôi xin thưa: Như mọi người đã thấy, tất cả các tòa án ở những quốc gia dân chủ- văn minh trên thế giới, một khi đã đem một phạm nhân ra để xét xử, họ đều phải truy nguyên từ nguồn gốc của tội ác, cùng mức độ gây ra trọng tội. Nhưng, tại Việt Nam, đã mấy chục năm qua, nhưng những kẻ đã từng xuống tay sát hại dân lánh, từng dập đầu, treo cổ trẻ thơ, từng đốt nhà hàng loạt, mà vẫn không hề đối đầu với luật pháp, và những nạn nhân có đi đến kêu cầu công lý, thì cũng chỉ được nghe những lời « chia xẻ » mà thôi.


Cũng vậy, ta thử truy nguyên về những tội ác của Phật giáo Án Quang đã gây ra, đã giáng xuống cho hàng vạn người dân lành vô tội không phân biệt nam, phụ, lão ấu!!!


Ở đây, tôi sẽ bắt đầu từ cuốn ngụy thư « Hoa Sen Trong Biển Lửa », vì đó là thời gian tôi đã trưởng thành. Với cuốn « sách » này đã có bàn tay của Võ Văn Ái, lúc đó là đệ tử của Thích Nhất Hạnh, Y đã viết lời « Tựa », trong lúc giữ chức: « Tổng thư ký Ban chấp hành Trung ương Phật giáo Việt kiều Hải ngoại, tức là một đảng bộ của « Phật giáo Xã hội đảng » đã được thành lập tại hải ngoại và đã «đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu » với « Trung ương Phật giáo Xã hội đảng » ở trong nước. Một cuốn sách đã được viết ra với tất cả những điều láo khoét, từ chiếc xe bò với người thiếu phụ cùng đứa con thơ và bà mẹ già, cho đến chuyện máy bay của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh đã bắn giết, đốt nhà của đồng bào, tất cả đều hoàn toàn là bịa đặt.


Nhưng, cuốn ngụy thư này, lúc đó đã được thầy trò của Thích Nhất Hạnh là những tên phản chiến, đã đem dịch ra nhiều ngoại ngữ, và đem phổ biến khắp nơi, để rồi giới chính khách ngoại quốc, cũng như ngoại nhân vì không biết gì về cuộc chiến tại Việt Nam, nên tất cả họ chỉ biết những điều qua cái lời « TỰA » của Võ Văn Ái và của Thích Nhất Hạnh. Chính vì thế, mà họ đã đứng về phe phản chiến, họ đã mất đi thiện cảm với Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa và cả những người chiến sĩ đang chiến đấu để bảo vệ Miền Nam Tự Do, trong khi cộng sản Bắc Việt đã ồ ạt xua quân vào miền Nam và giữa lúc những người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đang nằm sương gối súng ở những nơi rừng sâu, núi thẳm; có những lúc đơn vị của họ đã bị rơi vào vòng vây của địch, họ đã phải chịu đói, khát, có khi giữa sự sống -chết họ đã phải mở đường máu để vượt khỏi vòng vây; và vì thế đã có không biết bao nhiêu người chiến sĩ đã phải vĩnh viễn bỏ mình nơi chiến địa!!!


Và đó, chính cuốn ngụy thư « Hoa Sen Trong Biển Lửa » đã được phát hành rộng rãi tại hải ngoại, là một nhát dao chí mạng mà Võ Văn Ái và Thích Nhất Hạnh, đã đâm đằng sau lưng của tất cả quân -dân Miền Nam Tự Do. Còn hiện nay, về câu chuyện của « Tăng thân Bát Nhã », thì tôi muốn nói rằng: một lần nữa Thích Nhất Hạnh hãy dừng ngay những việc làm bất nhân thất đức, là đừng lấy những « tăng thân » để làm « phương tiện cho cứu cánh … ».


Trở lại với thời kỳ trước 30-4-1975, thì tại quốc nội, từ những tên cầm đầu của « Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất » tức Ấn Quang như: Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang, Thích Trí Thủ, Thích Quảng Độ, Thích Thiện Minh, Thích Đức Nhuận, Thích Thiện Hoa v…v… tất cả cũng đã đều liên thủ với Việt cộng kể từ những năm đầu của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, cho đến sau này, Phật giáo Ấn Quang đã gây ra vô số tội ác, mà cho dù có chết đi rồi, thì vẫn không bao giờ được dung thứ.


Và để chứng minh cho những hành vi làm giặc của Phật giáo Ấn Quang, thì tôi xin trích lại những lời của Thích Quảng Độ đã viết trong cuốn ngụy thư thứ thứ hai: « Nhận định những sai lầm tai hại của đảng cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và Phật giáo Việt Nam Thống nhất», cũng do Võ Văn Ái viết lời giới thiệu và phát hành, trong đó có những điều nó chẳng hề có liên quan gì đến cái tựa đề của cuốn sách như sau:


« Chính quyền ông Ngô Đình Diệm càng ngày càng trở nên độc tài, gia đình trị và có tính kỳ thị tôn giáo, nên ít được lòng dân. Sau khi đã tiêu diệt các tôn giáo khác, như Cao Đài, Hòa Hảo, năm 1963, ông Ngô Đình Diệm ra tay đàn áp Phật giáo, toàn thể tăng ni Phật tử miền Nam đã phải đứng lên chống lại để bảo vệ đạo pháp. Đến tháng 11-1963, chế độ ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ ».


Và rồi đến ngụy thư thứ ba lại cũng do Võ Văn Ái viết lời giới thiệu và đã đăng trên báo « Quê Mẹ » số 113, trang 06, tháng 06 năm 1995, với cái tựa đề:


« Bằng đôi chân của mình mời người hãy đi lên », của Thích Đức Nhuận « nguyên Tổng thư ký Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất » tức Ấn Quang.

http://www.quangduc.com/tacgia/htducnhuan.jpg
Thích Đức Nhuận, sinh 14 tháng chạp năm Quý Hợi ( thứ bảy, ngày 19 tháng giêng năm 1924) viên tịch tại Chùa Giác Minh, Sàigòn,, lúc 16.53 phút, thứ hai, 21 tháng giêng năm 2002 (nhằm ngày mùng 9 tháng chạp năm Tân Tỵ). Thọ thế 79 tuổi đời, 59 tuổi đạo.

Mở đầu Thích Đức Nhuận đã viết:


« Tôi viết những dòng chữ dưới đây thân gửi những tâm hồn luôn luôn thao thức đến tiền đồ Dân tộc và Đạo pháp, dù bạn hiện ở trong nước hay ở ngoài nước, xin hãy hướng lên Đức Phật từ bi cao cả nguyện cầu cho Tổ quốc và đồng bào thân yêu của chúng ta: sớm chấm dứt mọi hận thù, biết tha thứ và yêu thương nhau để cùng chung sức chung lòng góp phần xây dựng đất nước Việt Nam Quang Vinh ». (sao nghe nó sặc mùi cộng sản, lúc nào và cái gì cũng dùng hai chữ « quang vinh ».)


Những lời nói trên của Thích Đức Nhuận, cũng do Võ Văn Ái viết lời giới thiệu và phổ biến, từ tháng 6 năm 1995; đây đích thực là lời kêu gọi mọi người hãy xóa bỏ hận thù mà Hòa hợp- Hòa giải vô điều kiện với Việt cộng, mời quý độc giả hãy đọc thêm một lần nữa: « …dù bạn hiện ở trong nước hay ngoài nước, hãy sớm chấm dứt mọi hận thù, biết tha thứ và yêu thương nhau để cùng chung sức chung lòng góp phần xây dựng đất nước Việt Nam Quang Vinh ».


Đến trang số 09, Thích Đức Nhuận viết tiếp:


« Năm 1963, Phật giáo Việt Nam phát khởi cuộc vận động chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, đòi tự do và bình đẳng tôn giáo và được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ. Bạo quyền mang đặc tính kỳ thị tôn giáo sụp đổ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập».


Nên ghi nhớ, vào đại hội thống nhất Phật giáo năm 1981, Thích Đức Nhuận đã được bầu lên ngôi «Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam cộng sản ».


Qua những lời của chính Thích Đức Nhuận đã viết. Thì rõ ràng là Thích Đức Nhuận đã công khai nhận trách nhiệm của Phật giáo Ấn Quang với câu nói: « Phật giáo Việt Nam phát khởi cuộc vận động chống chế độ… » là để đánh đổ Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Điều quan trọng hơn cả là: « đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ ». Như thế, đã quá rõ ràng, đã quá sáng tỏ, để cho mọi người hiểu được rằng: Phật giáo Án Quang « phát khởi cuộc vận động chống chế độ và đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ ». Nghĩa là gồm cả cộng sản Bắc Việt.


Tôi cũng biết trước, sẽ có những tên ngu đần, láo khoét, gian manh, lừa bịp chúng sẽ biện minh một cách ngu xuẩn rằng: « Từ Bắc chí Nam là gồm những người Bắc di cư và đồng bào miền Nam». Nên biết, sau ngày 30-4-1975, khi người Việt Nam vượt biển đến HongKong; thì chính Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đã xếp những đồng bào miền Bắc di cư vào miền Nam và đồng bào miền Nam là một, vì tất cả đều là những công dân của nước Việt Nam Cộng Hòa, và họ đã ở chung một trại; còn những người vượt biển từ miền Bắc họ phải ở riêng một trại khác. Trừ một vài trường hợp đặc biệt mà thôi.


Trên đây, là những điều mà tôi muốn phân tích cho lũ lưu manh, để chúng đừng có ngu đần mà có thể ngụy biện cho những lời của Thích Đức Nhuận đã được Võ Văn Ái giới thiệu trên báo « Quê Mẹ ». Chúng ta phải biết, vào thời điểm 1963, mà Thích Đức Nhuận đã nói: Phật giáo Việt Nam (chứ không phải là GHPGVNTN) đã phát khởi cuộc vận động chống chế độ… và đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ », là Thích Đức Nhuận đã nói đến địa dư của cả nước. Vậy, ta hãy nghe Thích Đức Nhuận nói thêm một lần nữa: « Phật giáo Việt Nam phát khởi cuộc vận động chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm… và đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ », thì ta phải biết trong đó có cả cộng sản Bắc Việt. Điều này, tôi chắc chắn, cho dù có đến cả ngàn « ông » Luật Sai Đinh Thạch Bích, cũng không làm sao có thể biện minh nổi cho những lời của Thích Đức Nhuận đã được Võ Văn Ái giới thiệu trên báo Quê Mẹ.

Phật giáo Ấn Quang: Tội Bất Khả Nguyên.


Tội bất khả nguyên: Nghĩa là tội không đáng hay không thể nguyên lượng được. Bởi những tội ác của Ấn Quang quá lớn, trong đó có những tên đã cầm gạch, đá, gậy gộc và cầm đao, cầm súng để sát hại dân lành. Ngoài ra còn có những tên « cư sĩ » như: Lê Văn Hảo, Nguyễn Đan Quế, (tôi sẽ có bài viết những việc làm của Nguyễn Đan Quế lúc có mặt tại Pháp) ) Đoàn Viết Hoạt v…v… Riêng Lê Văn Hảo đã từng ở trong cái « Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam » của Võ Văn Ái, cũng đã từng đi trong « phái đoàn » của Võ Văn Ái đến Trụ sở của Liên Hiệp Quốc tại Thụy Sĩ để « tranh đấu ». Tôi vẫn còn lưu giữ những số báo Quê Mẹ, trong đó, có bài « tường trình » về chuyện đi « tranh đấu » của Lê Văn Hảo và Võ Văn Ái. Vì vậy, Võ Văn Ái cũng là một trong những tên đã nhúng tay vào tội ác. Tội ác không phải chỉ có riêng cho những tên đao phủ, mà kể cả những kẻ đã đứng đằng sau của những tên đao phủ, và Võ Văn Ái đã từng đứng đằng sau của những tên đao phủ ấy, Võ Văn Ái đã đâm sau lưng các Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa trong lúc họ đang đem máu xương để bảo vệ đồng bào và Miền Nam Tự Do. Nên nhớ, Võ Văn Ái chưa hề và không hề làm một việc nhỏ nào để góp phần vào công cuộc « Bảo Quốc An Dân » suốt trong cả chiều dài của cuộc chiến Quốc-Cộng tại Việt Nam, mà Võ Văn Ái đã tìm cách để ra hải ngoại từ thời Đệ Nhất VNCH, để chỉ cùng Thích Nhất Hạnh thành lập ra tổ chức « Phật giáo Việt kiều hải ngoại », mà Võ Văn Ái đã giữ chức « Tổng thư ký Ban chấp hành Trung ương Phật giáo Việt kiều hải ngoại » và để viết cuốn ngụy thư « Hoa Sen Trong Biển Lửa » để hô hào phản chiến, đòi Mỹ rút quân và không ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa, để rồi kết quả là Miền Nam Tự Do đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội. Như thế, không phải là một tội ác là cái gì nữa chứ???


Ngoài ra, ta cũng phải biết, trong suốt chiều dài của cuộc chiến Quốc – Cộng, thì tất cả những tên thầy chùa, những tên « cư sĩ » ở trong và ngoài nước, một lần nữa tôi nhắc lại: chúng đều « đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu ». Cả lũ Ấn Quang đã từng liên thủ với cộng sản Hà Nội, để đánh đổ cả hai Nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, cho đến trước những ngày 30-4-1975, bọn Ấn Quang đã đưa cả đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước cộng quân vào các thành phố của Miền Nam, rồi chúng cũng đã tổ chức « Lễ mừng chiến thắng của cách mạng » ngay tại chùa, đồng thời cũng đã tổ chức « Lễ mừng sinh nhật tên đại việt-gian Hồ Chí Minh » cũng ngay tại các chùa. Để rồi sau đó, có một số vị là Dân-Quân-Cán-Chính của Việt Nam Cộng Hòa, họ đã bị Phật giáo Ấn Quang giết chết, trước khi Việt cộng tiếp thu chính quyền của miền Nam, mà tôi đã viết qua bài: 30-4-1975: Máu và Nước Mắt. Và người dân của miền Nam họ cũng đã bị đày đọa ở trong và ngoài nhà tù của cộng sản cho đến cùng cực của nỗi đớn đau.


Chính vì thế, nên đã có không biết bao nhiêu vị đã bỏ mình trong các nhà tù « cải tạo » của Việt cộng, có nhiều vị khi ra khỏi nhà tù đã trở thành những tấm thân tàn phế!


Rồi đến thảm cảnh vượt biên, vượt biển cũng đã có không biết bao nhiêu người, kể cả trẻ thơ đã chết trên con đường vượt thoát nhà tù Việt cộng. Họ đã chết ở những nơi nào? nắm xương tàn của họ đã vương vãi đâu đó trên bìa rừng của biên giới Thái- Miên, hoặc đã làm mồi cho cá dưới đáy biển, và đau thương nhất vẫn là những cái chết hãi hùng của những em bé gái, các em đã chết bởi những bàn tay của hải tặc, rồi thân xác của các em đã bị ném xuống biển khơi. Những thảm cảnh, bi thương ấy, thử hỏi giấy mực nào, ngôn từ nào của nhân loại để kể cho hết tội của Phật giáo Ấn Quang. Chúng ta phải biết rằng, bọn việt gian cộng sản giết hại dân lành là việc làm bình thường của chúng, kể từ những cuộc « cách mạng » có máu đổ đầu rơi, từ « Cải cách ruộng đất » đến « Nhân Văn Giai Phẩm » v …v…, cả thế giới này đều biết. Nhưng, Phật giáo Ấn Quang đã nhân danh là « tôn giáo » mà đã xuống tay một cách tàn ác, dã man để giết hại những người dân lương thiện, trong đó có một thiếu niên Lê Quang San đã bị «Quân Đoàn Vạn Hạnh » đánh đập đến mềm xương, rồi bắn em gục chết ngay trước cổng chùa Pháp Lâm, tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Quảng Nam-Đà Nẵng, tức Ấn Quang, ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng.


Chính vì thế, nên giờ đây, tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính, họ phải nói, phải viết lại tất cả những gì mà họ đã chứng kiến, và đó là tiếng nói của lương tri của một con người. Những điều này hoàn toàn không có một chút gì gọi là đánh phá tôn giáo hay Phật giáo, vì chẳng có ai động tới « Phật- pháp » cả, mà chỉ vì Phật giáo Ấn Quang đã từng liên thủ với cộng sản Hà Nội trong suốt mấy chục năm qua, để rồi đã đưa đến những thảm cảnh, những cái chết vô cùng đau thương của người dân Việt. Như vậy, còn gì để nói, để trách tôi và khuyên tôi nên thế này, thế khác? vì tôi chỉ là một phụ nữ yếu đuối, và chỉ là một người chỉ biết cầm bút để viết lên những gì mà mình đã chứng kiến. Tôi đã ghi rõ họ, tên, chánh trú quán của từng nạn nhân đã chết thảm dưới bàn tay của Phật giáo Ấn Quang, chứ tôi không hề thêm bớt một điều gì cả.


Vậy, cũng nhân đây, tôi muốn nói với cả lũ gian manh kia, là ta đây, chưa bao giờ và không bao giờ biết sợ những cái thứ nhảm nhí như: Thư, ếm, bùa, ngải, đặc biệt là những trò giả phù thủy, với những tiếng kêu réo « gọi hồn », mỗi lần kêu tên người ta ra mà rủa sả và « nộp hồn » nghe giống như những tiếng tru của những con Chó Sói đang ngửa mõm để sủa trăng. Nói thật nhé, ta đây, đã từng đi đến từng chiếc giường bố của nhà binh, để vuốt mặt cho rất nhiều vị là những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã bị tử trận, khi họ đã được trực thăng đưa thân xác của họ trở về đơn vị. Nói tóm lại, là ta không biết sợ ma, và không bao giờ tin, và không bao giờ sợ những tên phù thủy bịp.


Và để trả lời một lần cho rõ là tại sao tôi đã viết là TỘI ÁC ở trong một bài trước:

Vì chính những tội ác mà bè lũ Ấn Quang, trong đó có những tên « cư sĩ » như Lê Văn Hảo,Võ Văn Ái, Nguyễn Đan Quế v…v..; đã gây ra, trên khắp nẻo đường của đất nước, mà cho dù có lấy hết nước của đại dương cũng không bao giờ rửa cho hết tội. Vì thế, nên tôi mới cả quyết: Phật Giáo Ấn Quang: Tội Bất Dung Tử.


Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Nguyễn Đan Quế-(còn gọi là Nguyễn Châu; sinh năm 1942)NDQue.jpg image by delta38_1


Tiến sĩ Lê Văn Hảo.



The Path of a Patriotic Intellectual

by Le Van Hao


Hue-Paris-Saigon (1953-1965)

Born to a wealthy bourgeois family, I have only vague
memories of the August Revolution (1945) in my native Hue:
a sea of red flags, the glittering golden star over demonstrating
crowds of both sexes and all ages. I recall, with deep emotion,
the little pioneer I was then, marching joyfully in time to the
drum.



.

THƯ CỦA HT THÍCH TÂM CHÂU GỞI HT THÍCH MINH TÂM



Audio


http://www.thuvienhoasen.org/thichtamchau-2.jpg

Thích Tâm Châu



THƯ CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH TÂM CHÂU

GỞI HÒA THƯỢNG THÍCH MINH TÂM

LTS: Nhật Báo Việt Herald nhận được lá thư sau đây của Hoà Thượng Thích Tâm Châu nhờ loan tải.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế Giới

Tổ Đình Từ Quang, 2176 Ontario Est,Montreal,Quebec H2K1V6, CANADA.

Tổ Đình Từ Quang, PL.2553, ngày 26 tháng 9 năm 2009

Văn thư số 1546/VP/TT

Kính gởi :

Hòa Thượng Thích Minh Tâm, Chánh Văn Phòng Điều Hợp, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Liên Châu.

Kính Bạch Hòa Thượng,

Đáp ứng lời thỉnh cầu của Hòa Thượng Chánh Văn Phòng, Hoà Thượng Nguyên Trí,Thượng Tọa Thông Hải và Đạo hữu Huỳnh tấn Lê tại Chùa Quán Âm,Los Angeles, hồi 12 giờ 15, ngày 18 tháng 9 năm 2009, tôi đã tới tu viện An Lạc đúng 11 giờ 30 ngày 19 tháng 9 năm 2009, ngày hội thảo của Giáo Hội Thống Nhất Liên Châu, và đã làm trọn chức năng được giao phó trước hiện tình điên đảo của Phật Giáo trong thế giới điên đảo.

Nghiệp vận của Phật Giáo -từ mọi phía -nằm trong thế giới điên đảo , bị ảnh hưởng điên đảo , thiếu nhìn xa trông rộng , thiếu chân thành xây dựng , thiếu độ lượng khoan dung , mang nặng thành kiến, phe nhóm, làm sao thực hiện sự cải tiến được !

Cảm nhận nghiệp vận không thay đổi , tuổi đời đã quá cao, xin cáo lỗi cùng đại chúng tăng già và Phật Tử, tôi xin trả lại chức vị “Chứng Minh Đạo Sư” cho Giáo Hội Phật Giáo Vi ệt Nam Thống Nhất Liên Châu . Và, tôi cũng xin Hoà Thượng Chánh Văn Phòng chỉ thị cho chư vị có chức vụ, tuyệt đối không được đăng hình ảnh của tôi trong các tài liệu của Ngày Về Nguồn.

Đạo tình nơi tôi vẩn bất diệt. Tôi xin thành tâm cầu nguyện Tam Bảo từ bi gia hộ, tứ chúng Phật Tử thấm nhuần hương vị Phật Pháp, chuyển hóa nhân tâm, đem lại sự thanh bình, an lạc và trường tồn chân chính cho thế giới, nhân loại và đạo giáo.

Kính thư

(Ấn ký)

Hoà Thượng Thích Tâm Châu

Nguồn từ : Việt Herald số 88 Thứ ba 29 tháng 9 năm 2009.


-------------------


Đaị Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu đã gửi tới Việt Báo một lá thư để làm sáng tỏ một số điểm. Do vì phóng viên đã viết nhầm lẫn, ban biên tập Việt Báo thành tâm cáo lỗi cùng Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu và chư tôn đức liên hệ, cũng như đối với tất cả độc giả. Thư viết như sau.

GIÁO-HỘI PHẬT-GIÁO VIỆT- NAM TRÊN THẾ-GIỚI

CHÙA PHẬ T-QUANG

176 Rupert Street, W. Footscray, Vic. 3012, Australia

VẤN ĐỀ VỀ NGUỒN 2008

Văn thư số 1407/VP/TT

Ngày 04.01.2008

Kính gửi : Quý vị Chủ-trương Việt Báo Online.

Kính thưa Quý vị,

Vấn đề Về Nguồn 2008, tại Canada , tôi không hay biết gì cả. Thượng-Tọa Thích-Quảng-Thanh cũng không cho tôi biết gì cả.

Chiều tối, ngày 15 tháng 12 năm 2007, tôi đang ở tại chùa Liên-Hoa, Charlotte, North Carolina, U.S.A. chứng-minh lễ kỷ niệm ngày hiến thân cho đạo pháp và dân tộc của Thượng-Tọa Thích-Chân-Hỷ và kỷ-niệm 20 năm thành lập Hội Phật-Giáo nơi đây, tôi được Hòa-Thượng Thích-Thuyền-Ấn từ Hawaii gọi điện thoại thăm tôi và nói với tôi rằng : “Anh em tại Cali, nhờ tôi cung thỉnh Hòa-Thượng chứng minh lễ Về Nguồn 2008”.

Tôi trả lời Hòa-Thượng Thích-Thuyền-Ấn : “Năm 2008, năm tôi 88 tuổi, tôi tâm nguyện lui về an tịnh, không tham gia bất cứ vấn đề gì, tạo thêm sự phức tạp, thiếu an lạc”. Nói vậy, Hòa-Thượng Thích-Thuyền-Ấn cũng vui vẻ và cáo biệt.

Tôi sang làm việc Phật tại Úc-châu. Ngày 28.12.2007, tôi nhận được tờ fax trang Việt Báo Online đề ngày 27.12.2007 nói về “Hòa-Thượng Tâm-Châu sẽ về Ngày Về Nguồn 2008”, do Hòa-Thượng Thích-Huyền-Tôn gửi mẩu báo ấy cho tôi. Tôi ngạc nhiên!

Tôi gọi điện thoại nhiều lần mới gặp được Thượng-Tọa Thích-Quảng-Thanh. Thượng-Tọa Thích-Quảng-Thanh nói : “Nhà báo có phỏng vấn con, con có nói là “Ban Tổ-Chức có ý ddi.nh cung thỉnh Hòa-Thượng Thượng-Thủ Thích-Tâm-Châu về chứng minh, nhưng chưa kịp cung thỉnh. Con xin chịu trách nhiệm và xin sám hối Hòa-Thượng”.

Tiếp đến, trang Việt Báo Online, ngày 29.12.2007 viết: “Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu đã cho biết sẽ về tham dự”. Tới trang Việt Báo Online, ngày 31.12.2007 lại viết : “DDích thân Thượng-Tọa Thích-Quảng-Thanh đã trình qua điện thoại với Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu vào hôm thứ bảy 29.12.2007”.

Thực là vấn đề khó hiểu! Đó là, diễn tiến sự việc Về Nguồn 2008 đối với tôi.

Tôi thành thực cảm ơn Thượng-Tọa Thích-Quảng-Thanh, quý vị trong Việt Báo Online đã luôn luôn nghĩ đến tên tôi. Tới đây, tôi xin tuyên bố : “Tôi chưa nhận được một chứng từ gì về lễ Về Nguồn 2008. Năm 2008, tôi lui về an tĩnh, không tham dự các việc ngoài”.

Tôi xin kính chúc tất cả Quý vị thường an-lạc.

Nay tuyên bố,

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu (có ấn ký)



Thich Minh Tam la ai ???

Sau buổi hội thảo, Thầy Thiện Trí có dẫn "Sư Minh Tâm" đến giới thiệu với vị Thầy trong ban tổ chức này rằng Minh Tâm có (tu) học chung với thầy Thiện Trí tại chùa Huê Nghiêm, nên làm cho Thầy thêm tin tưởng nên coi như không có khúc mắc gì nữa, cho đến ngày Minh Tâm bị lột mặt nạ sư giả, cả tiến sĩ cũng giả!

Như vậy là đã rõ, Thầy trong ban tổ chức bị Minh Tâm lừa là chuyện chấp nhận được, mặc dù còn thiếu sự tỉnh thức theo lời Phật dạy, nhưng trên con đường tu tập, không ai không mắc lỗi. Phật tử chúng tôi hoan hỷ, không chấp nhất gì Thầy.

Nhưng chính thầy Thiện Trí lại giới thiệu Minh Tâm là có học chung ở Huê Nghiêm. Tình tiết này cần phải được hiểu và giải thích như thế nào?

Thực sự trước đó, chúng tôi đã có các nguồn tin từ đạo hữu Phật tử Úc châu cho biết rằng Thích Minh Tâm đã từng khoe ra cái giấy chứng nhận của thầy Thích Thiện Trí (trụ trì ở Long Bửu, mà trong bài về Thích Minh Tâm làm từ thiện có nhắc đến), là Thích Minh Tâm xuất gia với thầy vào năm 1972. Thứ hai là một người đã đăng trên báo Việt Luận, Sydney xác nhận đã nghe thầy Thiện Trí trong một buổi thuyết pháp tại chùa (sau này là tu viện) Minh Giác trong chuyến đi thăm Sydney của Thầy, thầy cũng có giới thiệu Minh Tâm như vậy. Chi tiết này được nhiều đạo hữu sau đó xác nhận là có đi dự buổi thuyết pháp đó và có nghe.



Tư cách học thuật Phật học và tư tưởng chính trị của

Nguyễn Thiếu Văn-Thích Minh Tâm?

Chỉ sau khi sự cố động thổ "ma" dự án xây dựng Hải Thượng Y viện thì chân tướng của Sư giả Thích Minh Tâm kiêm tiến sĩ luật giả Nguyễn Thiếu Văn bị lộ diện.

Cho đến nay, theo thông tin từ các báo trong nước và cộng đồng người Việt ở Sydney đã rõ ràng rằng: Nguyễn Thiếu Văn chỉ là người trần tục, có gia thất, mới tự xuống tóc vào khoảng cuối 2005 đầu 2006 và tự xưng là Thượng tọa Thích Minh Tâm, và tự lập một tu viện tại gia đặt tên là tu viện Hoa Nghiêm, hay Viện Hoa Nghiêm (Hwa Yen Institute).

Bức hình trên trái là Nguyễn Thiếu Văn vào khoảng đầu 2005, vẫn là một người mặc "sơ mi-cổ cồn". Như thế thì Nguyễn Thiếu Văn không thể xuống tóc thành Thích Minh Tâm sớm hơn cuối 2005 đầu 2006!

Ấy thế mà, chỉ trong vòng có mấy tháng sau khi tự thọ giới, Thích Minh Tâm đã chen chân được vào các hoạt động Phật giáo ở VIệt nam, cụ thể là Thích Minh Tâm đã được mời đến dự với tư cách là một đại biểu quốc tế của hội thảo quốc tế với chủ đề: "Phật giáo trong thời đại mới: Cơ hội và thách thức" được tổ chức tại TP HCM vào các ngày 15-17/06/2006, với sự tham gia của các học giả Phật học hàng đầu Việt nam và nổi tiếng của thế giới, cũng như các bậc trưởng lão, chân tu trong hàng ngũ Phật giáo Việt nam. Tại hội thảo này, Thích Minh Tâm còn có bài tham luận "Phật Giáo trong thời đại mới: Cơ hội và thách thức" và có mặt trong chủ tịch đoàn điêu khiển hội nghị.

Thực ra, việc Thích Minh Tâm có nộp tham luận và kể cả được chọn làm diễn giả chính thì cũng không có gì để nói, vì bất kỳ ai cũng có thể đóng góp hiểu biết của mình vào sự phát triển của Phật giáo, bất kể người đó là thuộc thành phần và tầng lớp nào trong xã hội, miễn là ý kiến xác đáng.

Điều đáng nói ở đây là, hội thảo quốc tế về Phật giáo là một hội thảo quốc tế có tính chất học thuật, do một hội đoàn Phật giáo lớn, Viện Nghiên cứu Phật học thuộc GIáo hội Phật giáo VN đứng ra tổ chức. Hội thảo này với các đại biểu chính thức phải là các học giả uyên thâm, có uy tín trong nghiên cứu Phật học cũng như các vị cao tăng, có công năng tu tập thâm tuệ. Và hẳn nhiên, với một hội thảo quy mô như vậy thì phải có quản lý, có xét duyệt tư cách người thuyết giảng và nội dung thuyết trình. Tư cách của thuyết trình viên ít nhất cũng được thể hiện qua lý lịch trích ngang (CV) của người đó nộp cho ban tổ chức, mà đặc biệt nếu là thuyết trịnh viên quốc tế thì lý lịch trích ngang này không chỉ về chuyên môn mà về mặt chính trị cũng còn phải thông qua bộ nội vụ trước khi thuyết trình một vấn đề trước công cộng, bất kỳ trường học, hội thảo hay công chúng.

Và như thế, Thích Minh Tâm đã được miễn dịch (immunity) qua các hàng rào xét duyệt về tư cách chuyên môn, ít nhất ban tổ chức cũng đã thông qua những gì mà Minh Tâm kê khai, như trong chương trình: "Tiến sĩ Thích Minh Tâm, Viện Phật học Hoa Nghiêm, Úc", và phía bộ nội vụ về mặt tư cách chính trị của Thích Minh Tâm, ít nhất là không có tư tưởng hay tiền án tiền sự chống lại Việt nam.

Học thuật Phật học của Thích Minh Tâm

Về tư cách học thuật, tu học cũng như kến thức về Phật giáo của Thích Minh Tâm thì đã quá rõ ràng. Từ thời điểm Minh Tâm xuống tóc gọi là xuất gia đến khi Minh Tâm đứng trên diễn đàn hội thảo quốc tế "Phật Giáo trong thời đại mới: Cơ hội và thách thức" chỉ vỏn vẹn có 6 tháng! Còn cái gọi là Viện Phật học Hoa Nghiêm nơi ông Minh Tâm tu tập, chẳng qua là cái tư thất của ông, ông sơn vẽ thành tu viện, rồi thành Viện Phật học, chỉ có ông là trụ trì và vợ ông là sư mẫu, và chẳng có ai khác ở đó cả. Tuy thế, nhưng địa chỉ liên lạc chính thức của cái gọi là "Viện Phật học" này thì cũng chính là cái văn phòng mấy chục thước vuông, của mấy "tập đoàn công ty" do Thích Minh Tâm làm chủ.

Vừa mới tự xuống tóc khoảng 6 tháng, Thích Minh Tâm đã "chễm chệ" ngồi vị trí chủ tịch đoàn điều khiển cuộc hội thảo quốc tế lớn về Phật giáo, ngang hàng và thậm chí còn hơn nhiều bậc cao tăng, trưởng lão, học giả Phật giáo có tiếng trong nước và trên trường quốc tế! (hình trích phatgiaovietnam.net)

Sở học Phật giáo của Thích Minh Tâm có siêu phàm đến đâu thì không biết, với bề dày thành tích tu học Phật như vậy mà để cho Minh Tâm đứng ngang hàng với các bậc Trưởng tử Như Lai không chỉ ở cấp quốc gia mà còn quốc tế, ngang hàng (thậm chí còn hơn) cả những học giả về Phật học uyên thâm tầm cỡ ở trong nước như Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, ngoài nước như Hoàng Nguyên Nhuận, Cao Huy Thuần, Quán Như, Trần Chung Ngọc, Tâm Đàn, Hồng Quang và nhiều GS TS Phật học quốc tế khác, chễm chệ ngồi trên cương vị chủ tịch đoàn điều khiển một buổi hội thảo quốc tế về Phật học của các học giả uyên thâm về Phật giáo là một chuyện làm trò cười cho thiên hạ khi họ nhìn vào tổ chức Phật giáo.


Rồi suốt từ dạo đó, Thích Minh Tâm được phép (chắc chắn là phải được thông qua bộ nội vụ khi về VN đi thuyết trình trước công chúng rồi) đi thuyết pháp, làm "từ thiện" thênh thang khắp miền đất nước, từ nam đến bắc, từ đồng bằng lên đến trung du, miền núi.

Vậy, ai, tổ chức hội đoàn Phật giáo nào, Phật giáo Hải ngoại hay GIáo hội Phật giáo Việt nam có thẩm quyền cho phép Thích Minh Tâm được hoạt động thuyết pháp, hoằng dương Phật pháp trên địa bàn Úc châu và VIệt nam? Ai và tổ chức nào có thẩm quyền để trả lời cho chúng tôi, những Phật tử, đạo hữu cần được câu trả lời rõ ràng về trí đức, công năng tu tập và khả năng học thuật về Phật học của vị sư xưng Thích Minh Tâm này.

Tư tưởng chính trị của Thích Minh Tâm

Huy hiệu của Liên Minh Dân chủ Việt nam, Thích Minh Tâm từng là đại diện của Khu bộ Úc châu đến dự đại hội vào năm 2002, tại Canada.









Về nhân thân, Nguyễn Thiếu Văn-Thích Minh Tâm là người có tư tưởng chính trị không rõ ràng.

Vào năm 2002, Nguyễn Thiếu Văn (Luật sư, tiến sĩ) với tư cách đại diện cho phái đoàn Liên Minh Dân chủ Việt nam Khu bộ Úc châu, Sydney và Melbourne sang tham dự Đại hội Liên minh Dân chủ Việt nam được tổ chức tại thành phố Vancouver, British Colombia, Canada. Để biết được tổ chức này là gì, nguyên tắc và lập trường hoạt động như thế nào, có thể tham khảo tin tại trang nhà www.lmdcvn.net. Theo lời kể của ông Phạm Văn Song-một đại biểu đến dự, đăng trên tờ Việt Luận, Sydney 20/03/2009, thì trong hai ngày họp của tổ chức này Nguyễn Thiếu Văn không vắng mặt buổi nào, kể cả ngày bầu cử lại hội đồng lãnh đạo của Liên Minh Dân chủ Việt nam. Chi tiết này xác định rằng Nguyễn Thiếu Văn ít nhất là có lập trường chính trị khá rõ rệt về phía chống lại nhà nước Việt nam hiện nay. Nguyễn Thiếu Văn còn thổ lộ với các thành viên trong đại hội ông là nhân viên cố vấn đặc biệt của Liên hiệp quốc, hiện đang cố vấn Giáo duc cho VIệt nam, thường xuyên đi về Việt nam, và còn có tư vấn về cách thức mở trường học ở VN cho ông Trần Minh Xuân, đại biểu Liên Minh Dân chủ Việt nam từ San José, California.

Có thể nói thời điểm 2002 là đã lâu, Nguyễn Thiếu Văn nay cũng có thể "sám hối", nên được phép tự do đi lại, thuyết giảng ở Việt nam. Nhưng chỉ mới năm 2007 đây thôi, Nguyễn Thiếu Văn-Thích Minh Tâm vẫn một lần nữa tỏ rõ lập trường, mà hai bức hình dưới đây thể hiện điều đó. Trong một buổi thuyết pháp của mình ở Tây Úc, mặc dù thuyết pháp tôn giáo, nhưng Thích Minh Tâm vẫn không quên lập trường "chính nghĩa quốc gia" kiên định của mình bằng cách dựng lá cờ vàng ba sọc đỏ, và trước khi vào thuyết pháp còn có lễ chào cờ nghiêm trang.

"Thuyết pháp Phật giáo" tại Tây Úc (11-11-2007), nhưng Thích Minh Tâm vẫn không quên lập trường quốc gia (chống cộng) cứng rắn của mình (Chú ý hình dưới, góc sát bên phải bàn là lá cờ vàng sọc đỏ)

Ấy thế mà, Thích Minh Tâm- với "tinh thần quốc gia" (chống cộng) vẫn được cấp visa thường xuyên đi về Việt nam, và được đặc quyền hơn nữa là được phép (Bộ Nội vụ, chắc chắn rồi) tự do thuyết pháp khắp đất nước Việt nam. Hoạt động thuyết pháp của Minh Tâm rầm rộ nhất là vào năm 2008, cụ thể là: Trại Phong Bình Minh, Long Thành, và trại mò côi Phổ HIền , 5/12/2008; thuyết pháp trước 1000 đồng bào ở chùa Nam Thiên, Đặk lăk; 15/12/2008; thuyết pháp cho hàng chục vị cao tăng tại chùa Pháp Trí, Thủ Đức, 17/12/2008; thuyết pháp tại chùa Linh Thông Hà nội, 23/12/2008, và danh sách này kể ra thì còn dài nữa. Kể cả những nơi nhạy cảm như vùng Tây Nguyên, buôn làng dân tộc ít người (buôn Eam R'Doh) cũng có dấu chân Minh Tâm.Không ai biết Thích Minh Tâm đã rao giảng những gì ở đó? Tại Úc, Thích Minh Tâm cũng thế, từ Sydney đến Perth, Tây Úc.

Vậy Thích Minh Tâm có lập trường chính trị như thế nào? Thái độ của các giới chức trách Việt nam đối với Thích Minh Tâm ra sao? Ai chịu trách nhiệm giải đáp những câu hỏi này?

Thích Minh Tâm- 2 năm tuổi đạo, "giảng Phật pháp" cho các vị cao tăng tại chùa Pháp Trí, Thủ Đức (17-12-2008)

Thích Minh Tâm "uỷ lạo" tại Phòng khám mắt từ thiện và ở buôn Eam R'Doh, Đặk lăk, 12-07-2008
Thích Minh Tâm ở Trại mồ côi Phổ Hiền, Long Thành 05-12-2008
Thích Minh Tâm "thuyết pháp" tại chùa Nam Thiên, Đăk lăk trước 1000 Phật tử và đạo hữu, 15-12-2008



TRƯƠNG MINH HÒA ĐÔ LA TRONG BIỂN LỬA



ĐÔ LA TRONG BIỂN LỬA !

- TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) -

" BẢ NHÁT Chân không, lừa BÁT NHẢ.
GIÀ ĐI Nh
ất Hạnh, phỉnh DI ĐÀ"


M
ột người trong lớp áo tu sĩ, núp bóng Phật Giáo, thuộc khối Ấn Quang là Nguyễn Xuân Bảo, hay có tài liệu gọi là Nguyễn Đình Bảo, sinh năm 1926 tại làng Minh Hương, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, tuy nhiên chánh quán thì ở Thanh Hóa, và bên ngoại thuộc làng Lệ Lộc, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Từ năm 1942, không biết có giác ngộ thật sự hay là những lý do thầm kín nào, mà chàng thanh niên nầy" cạo đầu" mặc áo cà sa, nhưng chưa hẳn là" cầu đạo" như một số người muốn tim đường giải thoát khỏi kiếp luân hồi. Chàng tu sĩ trẻ ở nhiều chùa tu học, đầu tiên là chùa Bảo Quốc, rồi Từ Đàm, Từ Hiếu... đó là tu sĩ Thích Nhất Hạnh, có hiệu là Trừng Quang, học đạo và học chữ tại chùa, nhờ tiền" cung dưỡng" của Phật tử, biến thành" cúng dường" cho có vẻ là linh thiêng nên trở thành mối lợi lớn giúp giới thầy tụng, thấy cúng trở thành tư bản Phật Giáo, là do Phật tử đầy lòng" trọng Phật kính tăng" một cách máy móc" đãnh lễ" trường kỳ.

Đ
ến năm 1959, đổ bằng cử nhân văn khoa tại Sàigòn và năm 1961 được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp học bổng du học tại tiểu bang New Jersey, với môn" Tôn Giáo Đối Chiếu" tại đại học Princeton. Tuy nhiên, tu sĩ trẻ nầy chỉ được giới Phật tử biết đến sau khi xuất bản quyển sách mang tựa là:" Đạo Phật Ngày nay", nên sư trẻ được" bưng bợ" khá kỷ, không biết do các thế lực đen, thế lực đỏ nào" trèo cao, lặn sâu" trong hàng chức sắc cao cấp lãnh đạo như Thích Trí Quang, Thích Minh Châu...nên được" đặt cách" cho vào ngồi trong" chiếu chiếu manh tự biên tự diễn" một cách" không người lái" trong nhóm Thiền Vi được Phật tử thời đó tôn sùng phong trào" trí thức Phật Giáo" cùng với Phạm Công Thiện (được tâng bốc là triết gia, nghe đâu đi tu không phải vì giác ngộ mà là không muốn tham dự vào công cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc? Nay hoàn tục), Tuệ Sĩ, Phạm Thiên Thư, Trụ Vũ.....

S
ư trẻ đã sớm giác ngộ chân lý" triết học Marx Lenin bách chiến bách thắng, vô địt, ra địt, sáng địt, chiều địt, địt tứ thời mãi, bất kể mùa nào của chủ địt Hồ Chí Mén dạy đĩ" nên nghe đâu từng vào rừng Tây Ninh để" tầm đảng học Bác" sau trở thành" tu sĩ nói sảng" mà lòng tự mãn là" cao tu" lẫn" tu cao" theo cái thiền định theo" định hướng xã hội chủ nghĩa" hổ trợ cho Mặt Trận Dân Hại Khủng Bố Miền Nam, nhằm ru ngủ, kêu gọi thanh niên trốn lính để lo báo hiếu, là tuyệt tác" Bông Hồng Cài Áo" và hình như sau 1975, được các đỉnh cao trí tuệ loài đười áp dụng trong việc dùng khẩu trang bịt miệng nằm dọc của phụ nữ miền Nam vào mỗi tháng có vấn đề" hội ý" có treo cờ đỏ trước cửa hang Pác Pó, thế là trở thành" Tã Hồng Cài Háng", mỗi khi đi ngang qua đống rác, bị đổ thừa là" do tàn dư chế độ Mỹ-Ngụy để lại", trong công việc phòng chống dịch tể, ôn dịch vật.

V
ới tiếng tăm, nên được cấp trên cho dạy vài giờ ở Đại Học Vạn Hạnh và nơi nầy sư trẻ đã sớm" giác ngộ" chân lý trong việc" đi sát đáy quần Hồng" mà đắc quả" thiền Tiếp Hiện" cũng với một Phật tử trẻ gốc Bến Tre, có tên Tây là" Đóa Hoa Nhỏ" ( Fleurette), cả hai cùng nhau" điều phối" luyện tập môn thiền, áp dụng nguyên tắc" Khí và Công" trong" âm-dương giao hợp hòa giải" theo định hướng" tâm thân trường khoái lạc" để tìm về bến giác, mà mục đích yêu cầu tối thượng của môn tu nầy là biến Bể Khổ thành" bể sướng" là cái NHÂN và đưa đến cái QUẢ là biến chúng sanh thành chúng đẻ. Chính vì sự giác ngộ và đắc quả" đạo ù ù" trong thiền Tiếp Hiện, hai người dường như cũng đã cùng" dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường" của tập" đồ hình Tố Nữ" mà sư Tàu Thích Đại Sán mang dâng cho chúa Nguyễn Phước Chu để được" cúng dường" 5 ngàn lạng vàng, nên các sư" thượng cấp" và sư thủ trưởng như Thích Minh Châu....cảm thấy" thanh tâm trường lo sợ" nên bèn đưa qua Pháp để" tu hành" và đến sau 1968, thì tín nữ" Chưn Không" được đưa sang để cùng nhau" tịnh thất" dài dài cho đến ngày nay.

T
ừ khi ra ngoại quốc, hợp cùng với cư sĩ Võ Văn Ái, trong phong trào phản chiến, phụng sự bác đảng" hoạt động tích cực; vào năm 1967, Nhất Hạnh động não, động bi, động" giái"... cho ra cuốn" Hoa Sen Trong Biển Lửa", mà theo diễn đàn Tôn Giáo Á Châu tiết lộ là được chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng, nên đây là tài liệu" cực kỳ dối trá" để chụp mũ chính quyền miền Nam đàn áp tôn giáo, bất kể năm 1966, miền Nam do thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ điều hành với chức" chủ tịch Ủy ban Hành Pháp Trung Ương, là một" đứa con Phật" ( Buddha Child), nào có đàn áp Phật Giáo, thế mà cũng làm loạn" biến động Phật Giáo Miền Trung" với chiến dịch mang bàn thờ Phật xuống đường, giết người, mưu toan tách rời miền Trung để dâng cho Việt Cộng. Hoa Sen Trong Biển Lửa, xuyên tạc, chụp mũ miền Nam tự do, vu khống tổng thống Ngô Đình Diệm, nói toàn là chuyện bia đặt, không bao giờ đá động tới sự đàn áp tôn giáo dã man và" cực kỳ tàn bạo" ở miền Bắc do chế độ vô thần, còn cho tên Hồ Bất Nhân là yêu nước, nên quyển sách nầy được đánh giá là" cực kỳ lếu láo", một thời được giới báo phản chiến khuynh tả dùng làm tài liệu để xuyên tạc cuộc chiến bảo vệ lý tưởng tự do của dân quân miền Nam và đồng minh. Được biết, thời hội đàm tại Paris, Nhất Hạnh cùng với cư sĩ họ Võ, một số tay tả phái gốc Vẹm, Việt kều yêu nước... biểu tình, đánh phá, ủng hộ cho Cộng Sản. Cuộc chiến Việt Nam vào những tháng cuối cùng, cũng bị đánh phá đồng nhịp với" mục đích yêu cầu" của Cộng Sản, sau khi hiệp định Paris ra đời vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, nên vào tháng 10 năm 1974, Thích Nhất Hạnh dùng diễn đàn Phật Giáo ở Tokyo để kêu gọi Mỹ rút hết quân hết để cho Việt Cộng dể" tiến vào Saigon, trận cuối là trận nầy" và ý đồ ấy đã biến thành hiện thực

Sau năm 1975, thì Thích Nh
ất Hạnh cùng với các tu sĩ bỗng trở thành" tịnh khẩu" trước sự đàn áp tôn giáo dã man, trong đó có phật Giáo, tuy nhiên lòng vẫn luôn giác ngộ đảng, đạt quả Bác, nên lúc thời cơ thuận tiện là" phát huy", đó là lúc Hoa Kỳ thời nhiệm kỳ đầu của tổng thống George.W.Bush, bị khủng bố tấn công ngay trên đất Mỹ và mở cuộc tấn công vào sào huyệt Al Qaeda, Thích Nhất Hạnh bèn bay sang Mỹ, bỏ ra 45 ngàn Mỹ Kim để đăng báo, tiếp tục đánh phá quân dân miền Nam và đồng minh, dù cuộc chiến đã đi qua, đúng là thù dai như Việt Cộng, nên Nhất Hạnh lếu láo với luận điệu như trước, dù chuông có thể bể, mõ có thể rè, song lối láo khoét không bao giờ thay đổi: Trong trận Tết Mậu Thân 1968, có vài du kích bắn vu vơ ở dưới, mà Mỹ đem bom dội, tàn phá cả tỉnh Bến Tre, làm hư hại 300,000 căn nhà.... đây là lối đánh trống lảng để khỏa lấp tội ác của đảng Cộng Sản, tàn sát hơn 4 ngàn thường dân ở Huế trong trận nầy và đây cũng là đòn thâm độc nhằm tạo sự thù ghét của dân Mỹ đối với người tỵ nạn Việt Nam, khi có sự hiểu lầm là" Nhất Hạnh là người Việt" lại phản đối cuộc chiến chống khủng bố ở A Phú Hãn. Vẫn một lòng" trung với đảng, hiếu với bác, Phật tử nào cũng đánh lừa, tiền cúng dường nào cũng thu gom, lợi lộc nào cũng ôm hết" như mục tiêu: " đảng cần Nhất Hạnh có, đảng khó có Nhất Hạnh", thế là sư trở về 2 lần, nhất là lần sau cầu siêu" hòa hợp hòa giải" giữa những người vị quốc vong thân và hồn ma đám bộ đội, khủng bố, công cụ đảng, quân hại nhân dân, tiếp tay bán nước cho ngoại bang.

Thích Nh
ất Hạnh được đánh bóng tối đa, một thời sôi nổi về vụ một nhà tỷ phú Ấn Độ, bỗng giác ngộ quyển sách" Đường Xưa Mây Trắng" và muốn quay thành phim, được tờ báo Người Việt ở California, ở Úc có đài SBS đánh bóng tối đa. Vụ nầy gây ồn ào và nay thì" xin thời gian qua mau" khi dối trá càng cao, nên nay coi như là" Đường Xưa Mây Xám". Tuy nhiên ý đồ phong quân hàm" bồ tát" vẫn được tiếp tục, nên trong số những người mê thầy, có người tin là Nhất Hạnh là Phật Sống như đức Đạt Lai Lạt Ma ở Tây Tạng; tuy nhiên, vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng khẳng định trên hệ thống truyền thông thế giới là" tu sĩ bình thường" ( humble monk) chớ hổng phải là" living Buddha". Đài tàn hình SBTN ở Hoa Kỳ, có lần đưa đệ tử của Nhất Hạnh là Hoằng Trường lên quảng cáo và người nầy phong Nhất Hạnh với quân hàm" bồ tát" tại thế.

Trong nh
ững tháng giữa năm 2009, bỗng nhiên tình hình sôi động như câu:" chơi dao có ngày đứt tay" là vụ tu viện Bát Nhả ở tỉnh Lâm Đồng, sau khi tình ĐỒNG ĐẠO thành ĐÀO-ĐỘNG giữa các phe trong" Phật Giáo theo định hướng xã hội chủ nghĩa" nổ lớn tại Việt Nam. Theo nhận định khách quan, thì Đảng cướp Cộng Sản không bao giờ có tình nghĩa, mà chỉ có tranh chấp, giành giựt quyền lợi, nên tình ĐỒNG CHÍ luôn trở thành ĐÌ CHỐNG giữa các phe thân Nga, Tàu trước đây và nay kéo dài, đám cán bộ quyền lực bị đám vô quyền, phục viên chống để tranh giành; đám vô quyền khéo léo, ngụy trang, biến thành phản tỉnh, chống tham nhũng, các đồng chí cầm quyền, nên người Việt hải ngoại cần thận trọng, coi chừng bị lọi vào cuộc tranh chấp nội bộ đảng, thì làm sao có dân chủ tại quê hương?.

Do đó, hai phe mạo danh Phật ở trong nước và hải ngoại có lúc cũng phải" cạo đầu, rủ áo cà sa mà ra đi" cũng là điều nằm trong vòng" qui luật" của đảng, nên từ đó mới có tình trạng đạo đức Phật Giáo ngày nay:" không có tình đồng đạo vĩnh viễn, mà chỉ có quyền lợi mà thôi". Ban đầu, thượng Tóa Thích Đức Nghi sang tận Làng Mai hợp tác trong tình thần" hữu nghị" như chuông với mõ, như tương với chao và được tài trợ về Việt Nam, phát triển thiền" Tiếp Hiện" và được Làng Mai đã chi ra tới 14 tỷ đồng bạc Hồ Chí Mén, xây dựng tu viện Bát Nhả tại tình Lâm Đồng có vẻ qui mô, tiện nghi, và con số môn sinh lên đến 400, gần một tiểu đoàn" tăng sinh" thân làng Mai vừa tu vừa tập và đương nhiên được bên ngoài hổ trợ tài chánh từ bên ngoài....rồi bỗng nhiên đất bằng dậy sóng qua việc các lực lượng công an và xã hội đen, hình như là cũng nằm trong giáo hội nhà nước, cũng là" bầu bạn Làng Mai" cả, đồng loạt mở cuộc" tổng công kích vào tu viện Bát Nhả" làm tả tơi tiểu đoàn tăng sinh gốc làng Mai....

Vi
ệc nầy cũng không khác gì thời 1979, Trung Cộng dạy cho đàn em theo Liên Sô là Việt Nam một bài học, dù hai nước đều có chân trong Liên Hiệp Quốc, nhưng Việt Cộng" đéo dám la" mà chỉ hát hò trong nước bằng bài :" không được đụng tới Việt Nam" hay cùng lắm là chửi một mình trên các đài phét thanh nội địa:" bọn lưu manh bành trướng Bắc Kinh với mộng bá quyền". Kỳ nầy, trước sức tổng tấn công tu viện Bát Nhả bằng các" lực lượng chánh qui công an, du kích côn đồ.." qua sự: nhất trí" của giáo hội trong nước; nhưng làng Mai phản ứng nhẹ nhàng là" cầu nguyện" thì" tình hình làm gì đổi ngược được?". Trước 1975, khối Ấn Quang, là đồng đạo và cũng là đồng chí của Nhất Hạnh, vu khống, xuyên tạc chính phủ, quân dân miền Nam, họ hành động mạnh: biểu tình, mang bàn thờ Phật xuống đường, đánh phá, tự thiêu, phao tin đồn nhảm để gây kích động hận thù giữa Phật và Thiên Chúa và ở hải ngoại, Nhất Hạnh, Võ Văn Ái....biểu tình chống miền Nam và thế giới tự do, nhất là tại hội đàm Paris...nay thì phản ứng quá yếu, chỉ cầu nguyện và tối đa là vận động xin chữ ký ( lối nầy của băng đảng Con Chim Không Cánh làm từ hơn 20 năm qua, mà không bao giờ có kết quả). Nếu muốn giống lên tiếng chuông làng Mai, thật sự phản đối cảnh đàn áp tu viện Bát Nhả, thì làng Mai có hành động cụ thể như:

-Huy động tăng thân, tăng sinh....biểu tình trước sứ quán Việt Cộng tại nhiều nơi trên thế giới.
-N
ếu cần cũng chế xăng tự thiêu như Thích Quảng Đức đã từng làm ở Việt Nam và 5 tháng sau thì Dương Văn Minh ( kẻ thân Ấn Quang) cầm đầu các phản tướng, phản tá đảo chánh, làm suy yếu và đưa đến khủng hoảng chánh trị, là một trong những nguyên nhân làm mất miền nam ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Nếu không hành động mà cứ cầu nguyện, ngầm đi xin chữ ký, thì quả là khôn nhà dại chợ. Cứ yên chí và" thanh tâm trường an lạc" là biểu tình trước các sứ quán Việt Cộng ở các nước Tây Phương, không sợ công an, bộ đội quân hại nhân dân và côn đồ như trong nước, làm sớm càng tốt, chứ đừng biểu tình trước sứ quán Trung Cộng như một số tỗ chức cò mồi, băng đảng Con Chim Không Cánh là trớt quớt đấy.

Trước đây, Nhất Hạnh có" Hoa Sen Trong Biển Lửa" đánh phá miền Nam và nói theo giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, cùng với các nhà" ngôn ngữ học có trình độ cao" với: chicken soup dùng cho câu" Hồi Chuông Thiên mụ CANH GÀ thọ sương", hay giới Anh ngữ thực dụng nhan nhản tại các nước, hay nói: Road die, tức là" xe nằm đường" với cảnh sát....nên đây có thể là:" Mulberry in the sea of fire" tạm dịch là:" Trái Dâu trong biển lửa", cho nên, kỳ nầy Nhất Hạnh là" multi-millionaire Buddist" nghe đâu tài sản lên đến hơn 300 triệu Mỹ Kim gồm các chùa, tự viện, đạo tràng ở Pháp, Mỹ....nên khi mang tiền về đầu tư tại Bát Nhả, cũng đã bị các đồng đạo gốc đảng, đánh tư sản tả tơi, đúng là " Đô La trong biển lửa"./.

TRƯƠNG MINH HÒA
Ngày 30.09.200
9