Monday, January 30, 2012

Mặt Thật của Thích Trí Quang và nhóm Ấn Quang Internet 2010/05/26



 
TL.
 
Mặt Thật của Thích Trí Quang và nhóm n QuangInternet  2010/05/26

TT. Thích Tâm Châu
TT. THÍCH TÂM CHÂU NÓI GÌ VỀ TRÍ QUANG VÀ PHE ẤN QUANG? 
Ở miền Nam, ngoài Dương Văn Minh, còn có Thích Trí Quang, và phe Phật Giáo Ấn Quang, hay ”PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT” là một ổ cán bộ CS nằm vùng trước mũi của chính quyền.
 Vì giới quân nhân cầm quyền tham nhũng, nên đã dung dưỡng bọn mượn danh đạo, tạo danh đời này, khiến cho miền Nam bị rữa mục, rơi vào tay CS quá dễ dàng. Theo tôi biết, hiện nay ở hải ngoại, nhóm sư tăng đệ tử của Trí Quang, đa số là người miền Trung, trà trộn trong cộng đồng người VN tị nạn rất đông, cấu kết rất chặt chẽ, tạo thành một lực lượng, nếu mai sau thời cơ đến sẽ xử dụng. Tuy mang danh nghĩa tu hành, nhưng nhóm tăng sĩ Ấn Quang ở khắp nơi hải ngoại chỉ chuyên tâm nô nức ganh đua xây chùa bằng tiền cúng dường, vay mượn không lãi dài hạn của bá tánh. Có nơi con số lên tới hàng chục triệu, và thường xảy ra những cuộc tranh chấp, chửi bới nhau chí chóe...

Đây là một hiện tượng đáng để các giới đồng bào khắp nơi hải ngoại phải đặc biệt quan tâm, cảnh giác đối với các tu sĩ đó trước khi quá muộn, như trường hợp Trí Quang. Bởi chính đức Phật đã dạy trong tạng luật
 ”MAHÃVIBHANGA”, đoạn Một: Có 5 hạng cướp thì hạng Tỳ Khưu không lo tu hành chân chính, chỉ ăn ngon mặc đẹp, chuyên lo xây chùa chiền, tu viện cho nguy nga đồ sộ bằng tiền của bá tánh là một hạng cướp nguy hiểm nhất. Vì tên tướng cướp thường còn bị pháp luật xét xử. Trong khi đó tên cướp mặc áo cà sa vẫn được tự do, đi đến đâu vẫn được bá tánh cúng dường vật thực ngon lành, tinh khiết, y phục, chỗ ở tốt đẹp, và xưng hô cực kỳ cung kính... (theo TÌM HIỂU PHẬT GIÁO, chương 14, Phật giáo với hàng tăng lữ của soạn giả Maha Thong Kham Medhivongs, Phật giáo nguyên thủy). Như trên tôi đã nói: TT Trí Quang là một cán bộ CSBV nằm vùng, đã chụp được thời cơ thuận lợi nhất là vụ treo cờ Phật Giáo, để nổi lên đánh phá miền Nam .
Thực ra chẳng phải đến bây giờ dân chúng miền Nam mới biết tông tích của TT Thích Trí Quang, một cán bộ CSBV đội lốt tu hành, đã phát động cuộc đấu tranh năm 1963, lật đổ chế độ độc tài gia đình trị nhà Ngô. Tông tích và đường lối mượn danh nghĩa Phật Giáo đấu tranh, chống độc tài gia đình trị họ Ngô, mở đường cho sự rối loạn và sụp đổ của miền Nam vào tay CSBV năm 1975 của TT Trí Quang đã được một số người biết từ lâu. Nhưng hoàn cảnh chánh trị ở VN, từ năm 1963 cho đến 1975, đã không cho phép một ai có đủ can đảm để nói lên sự bí mật này. Nguyên do chẳng phải bản tánh cầu an, khiếp nhược của con người, mà còn bởi nhiều yếu tố khác nữa.Những người am tường thời cuộc đều nhận thấy rằng, vào khoảng thời gian ấy, trong không khí chánh trị hỗn độn như thế, giới Phật giáo đấu tranh miền Trung đã trở nên một lực lượng chánh trị vô địch, các tu sĩ miền Trung đã trở thành những kiêu tăng, dám giết người nhân danh ”đạo pháp”, chẳng khác gì các kiêu binh kiêu tướng, và tệ nạn tham nhũng, hối lộ bành trướng khắp các giai tầng chế độ, thì việc phanh phui bí mật cuộc đời của TT Trí Quang ra trước công luận lúc bấy giờ chỉ là một việc làm vô hiệu quả, đồng thời còn là một hành động tự sát một cách ngu đần. Hơn thế nữa, bạn đồng minh Mỹ đến VN với danh nghĩa giúp chúng ta “ngăn làn sóng đỏ”, nhưng tiếc thay, họ lại chỉ là một anh chàng khổng lồ mù lòa, với võ khí là cơ quan CIA trong tay nhưng chẳng khác nào khẩu súng nước trẻ con chơi. Những người khôn ngoan chẳng ai dám tin vào họ!

Bạn đọc hãy tưởng tượng, ngay cả đến Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, một cao tăng đã có một địa vị vững chắc trong khối Phật Giáo VN và cả trên trường quốc tế, thế mà trong thời gian còn ở VN vẫn phải làm thinh “mũ ni che tai”, tránh voi không xấu mặt nào
.Sau năm 1975, khi ra hải ngoại sống cuộc đời lưu vong, Hòa Thượng Thích Tâm Châu vẫn tiếp tục “thủ khẩu như bình”, mãi cho đến năm 1994, Hòa Thượng mới công bố quyển “BẠCH THƯ”, trong đó có kể lại đôi điều liên quan đến TT Thích Trí Quang và phái Phật Giáo đấu tranh miền Trung, sau hiệp thành tổ chức gọi là: “GIÁO HỘI PHẬT GIÁO V.N. THỐNG NHẤT”, trụ sở đóng tại chùa Ấn Quang, nên còn gọi là phe “PHẬT GIÁO ẤN QUANG”. Phe nhóm này chủ trương đấu tranh bạo động, gây rối loạn không ngừng ở khắp miền Nam , theo sách lược của CSBV. Đối với HT Tâm Châu, mặc dù là đồng đạo, nhưng phe Phật Giáo Ấn Quang vẫn dùng thủ đoạn khủng bố để uy hiếp tinh thần. Nơi trang 24, của Bạch Thư, HT Thích Tâm Châu kể nguyên văn như sau: ”Tôi về tới VN Quốc Tự (VNQT), bước chân vào cửa văn phòng viện trưởng Viện Hóa Đạo (VHĐ) của tôi thì có một biểu ngữ nền vàng chữ đỏ ghi: MUỐN QUẦN CHÚNG TUÂN THEO KỶ LUẬT THÌ PHẢI THEO QUẦN CHÚNG. Tôi vào tới bàn giấy của tôi thì có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư: ”YÊU CẦU CÁC THƯỢNG TỌA TRONG VIỆN HÓA ĐẠO, KHÔNG ĐƯỢC THEO THƯỢNG TỌA TÂM CHÂU”. Tôi định lên chánh điện VNQT lễ Phật, tại đây có mấy vị tăng thanh niên không cho tôi vào chánh điện VNQT và hăm dọa, ai muốn vào chùa hãy bước qua xác chết của họ.

Tôi vô cùng chán nản, không biết cách nào vãn hồi trật tự được. Tôi trở về chùa Từ Quang. Về chùa Từ Quang cũng có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư CẤM TÔI KHÔNG ĐƯỢC HOẠT ĐỘNG NỮ
A. Và người trong chùa cho biết là họ hăm dọa sẽ đốt xe, ám sát. Và, chính các vị tăng thanh niên đang tụ tập tại Niệm Phật Đường Quảng Đức (Bàn Cờ) định sang chùa Từ Quang giết tôi. May có sư cô Vân biết được, cấp báo cho tôi biết. Tôi trốn thoát.”

Trang 25, HT Tâm Châu viết tiếp: ”Nhóm Lập Trường ở Huế ra đời... TT Trí Quang cùng nhóm tranh đấu tại Huế, kêu gọi Phật Tử đem bàn thờ ra đường, để ngăn cản bước tiến của quân đội chính phủ, cho các cán bộ CS nằm vùng trà trộn tẩu thoát... Tại Đà Nẵng cũng như một số nơi khác, ngoài việc đem Phật ra đường, còn ghìm súng nấp sau tượng Phật bắn ra, khi quân đội tiến vào kiểm soát chùa


Đem Phật ra đường rồi, TT Trí Quang vào tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên tuyệt thực. Sau chính phủ đưa TT Trí Quang vào Sài Gòn, ở nhà bác sĩ Nguyễn Duy Tài (* Đến đây, tôi xin mở dấu ngoặc để nói thêm về dưỡng đường của bác sĩ Nguyễn Duy Tài, để bạn đọc hiểu rõ hơn. Tôi quen với vợ chồng bác sĩ Tài từ năm 1965, khi tôi với Hồ Ngọc Cứ và Nguyễn Duy Tài cùng ra tranh cử Hội Đồng Đô Thành. Tôi biết cả nguyên nhân tiền bạc, do đâu mà vợ chồng BS tài đã có để lập nên nhà bảo sanh này
. Nhưng đó là chuyện riêng của bà tài, đã xả thân để gầy vốn cho chồng làm ăn, nên tôi không đề cập vào đây làm chi. Tôi chỉ đề cập đến BS Tài. Vì hành động của ông ta liên quan đến chánh trị và gắn bó với Trí Quang. Đó là một nhà bảo sanh tư, nằm trên đường Duy Tân, nổi tiếng chuyên môn các dịch vụ phá thai bất hợp pháp, với giá cắt cổ. Những sản phụ nào gần chết mà không đủ tiền cũng đừng hòng được nhận bệnh. Một hôm, thảm cảnh thương tâm sau đây đã xảy ra: một trung sĩ ở trong xóm nhà thờ Tân Định, sau đường Hiền Vương, góc ngã ba Duy Tân, có vợ sanh khó, mất máu quá nhiều đến ngất xỉu mê man rồi. Người chồng đem vợ đến dưỡng đường Duy Tân của BS Tài gần đó xin cứu cấp. Bác Sĩ Tài đòi phải đóng tiền trước đủ 18.000 đồng mới cho nhập viện. Viên hạ sĩ quan nghèo, không đủ tiền, lạy lục xin cho đóng trước vài ngàn, còn lại sẽ trả sau.
Bác sĩ Tài trả lời lạnh lùng: ”Không có tiền thì đem đi nhà thương thí, chớ đem đến đây làm gì?!” Và nhất định không nhận bệnh. Sản phụ đó chết. Người chồng đau đớn quá, mỗi chiều chiều, dắt bầy con thơ nheo nhóc đến trước dưỡng đường BS Tài ngồi khóc kể, réo đích danh Nguyễn Duy Tài chửi bới thậm tệ. Chuyện này đã kéo dài cả tháng trờ
i. Những ai có dịp qua lại đường Duy Tân, ngang dưỡng đường Nguyễn Duy Tài thời đó đều không khỏi chạnh lòng khi chứng kiến cảnh thương tâm đó.

Vậy, chuyện Nguyễn Duy Tài chứa chấp
, nuôi dưỡng, săn sóc Thích Trí Quang trong bảo sanh viện Duy Tân chẳng qua chỉ là một hành vi ”mậu dịch tình cảm” giữa bọn người quyền thế, giàu có, bất lương với nhau. Quả nhiên, ít lâu sau, Nguyễn Duy Tài đã được khối Phật Giáo Ấn Quang cài vào một danh sách tranh cử Thượng Viện, rồi trở nên nghĩ sĩ, đại diện cho phe nhóm Phật Giáo Ấn Quang.

Sau ngày 30. 4. 75, ra hải ngoại, tôi không lấy gì làm lạ khi thấy vợ chồng BS Nguyễn Duy Tài, ở Paris, liên hệ chặt chẽ với TT Thích Minh Tâm, thuộc nhóm ”Phật Giáo Thống Nhất” miền Trung!).
TT vẫn duy trì việc tuyệt thực (có uống nước thuốc dưỡng sức) cho đến khi chánh phủ quân nhân y lời hứa hồi tháng 4.66, bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 3.9.66... Tại miền Trung, TT Trí Quang cho tuyên truyền rằng: ”Mỹ mua đứt Tâm Châu với 3 triệu Mỹ Kim và cho tôi là cậu của tướng Nguyễn Cao kỳ, đem quân đội ra tàn sát Phật Tử miền Trung... tại Sài Gòn TT Trí Quang và nhóm tranh đấu vu khống cho tôi là người Mỹ cho tôi 1 triệu Mỹ Kim và trả lương cho tôi mỗi tháng là 20 ngàn Mỹ Kim. Thực ra, tôi chưa được một đô la của Mỹ, chứ nói chi đến vạn đến triệu...”
Về chuyện Phật giáo Ấn Quang đem người và khí giới đến đánh chiếm và đốt phá VNQT, HT Thích Tâm Châu kể nguyên văn như sau:
”Đùng một cái, một hôm vào khoảng 7 giờ tối, một số tăng tại chùa Ấn Quang, được sự hộ trợ của các dân biểu thân Ấn Quang có súng như Kiều Mộng Thu v.v... đột nhập vào VNQT bắt TT Viện trưởng VHĐ Thích Thiện Tường cùng với rất đông chư tăng, đem về nhốt tại chùa Ấn Quang. Ngày hôm sau Nha Tuyên Úy Phật Giáo can thiệp, mời các vị Ấn Quang ra khỏi VNQT... Vẫn chưa yên. Lại một hôm khác, vào chập tối, phe Ấn Quang lại đem người, đem khí giới, tái chiếm VNQT một lần nữ
a. Lần này họ bắt hết tăng chúng, lấy hết đồ đạc, nhiều máy may của VNQT, và đốt cháy một dãy nhà phía tay trái Quốc Tự...” (trang 28)

Về hành động của phe Ấn Quang đánh phá, đốt chùa, bắt nhốt tăng chúng, HT Tâm Châu viết:

”Sự việc rõ ràng như thanh thiên bạch nhật, mà nhóm tranh đấu của Ấn Quang, được sự hộ trợ ngầm của CS nằm vùng, lải nhải vu khống cho VNQT chia rẽ giáo hội, Thích Tâm Châu phá hoại và lũng đoạn GHPGVNTH. Thực như câu phương ngôn của VN thường nói: ”Vừa đánh trống vừa ăn cướp, vừa ăn cướp vừa la làng“. Cậy đông lấy thịt đè người, mặc sức vu khống, thao túng không coi nhân quả ra chi cả!

Cho đến nỗi những vị tăng không biết chút gì về việc tranh đấu, việc xây dựng giáo hội, cũng như các vị tăng ni, Phật tử ở xa, hay sau này, cũng a dua, hùa theo sự tuyên truyền nhồi sọ của nhóm tranh đấu Ấn Quang và CS nằm vùng trong suốt hơn 30 năm nay... Về vấn đề này, chính HT Thích Huyền Quang cũng thường nhắc đi nhắc lại: ”
CS từng tuyên bố: Phật Giáo Ấn Quang hai lần có công với Cách Mạng“... Khi quân CS từ rừng về Sài Gòn đã có gần 500 tăng ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra chào đón...” (trang 29).

...”Ngày 19.5.75, phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang.” (trang 30).

Nói về tinh thần đấu tranh của TT Trí Quang, HT Tâm Châu viết nơi trang 22: ”Trong lúc xáo trộn, TT Trí Quang kéo thầy Quảng Độ (biết tiếng Anh), sư Bửu Phương (biết tiếng Miên) chạy xuống Tân Châu và đang định chạy sang Kamphuchia, thì Sài Gòn trở lại yên ổn, các vị lại trở về.”...

Nhận xét về hành vi trốn chạy của TT Trí Quang, HT Tâm Châu viết nơi trang 34, đoạn 3, nguyên văn như sau:

”Việc TT Trí Quang trốn chạy xuống Tân Châu, định sang Kampuchia, chính tôi tới nhà Phật tử mà thượng tọa cư ngụ tại đường Hồng Thập Tự hỏi thăm, họ nói cho tôi biết như vậ
y. Và, sau TT cùng hai vị tùy tùng trở về Sài Gòn thì ai cũng biết. Để xác tín việc này, ĐĐ Thích Quảng Thành cũng có nói trong lá thư của Đại Đức gửi cho TT Trí Quang ngày 31. 12. 73 như sau: ”Năm 1964, khi Thiên Chúa Giáo xuống đường dưới thời chánh phủ Nguyễn Khánh, TT đã trút bỏ trách nhiệm, cạo bỏ râu mày, cải trang trốn sang Cao Miên. Nửa đường, nghe tình hình biến chuyển, TT mới trở về. Trong những cuộc đấu tranh, cứ đến khi nào bí lối, nguy hiểm, TT đều dùng hình thức tuyệt thực, để giao trách nhiệm và công việc cho các thượng tọa khác... Gần cuối lá thơ, ĐĐ Thích Quảng Thành với tính tình trung trực đã viết: ”Đến nỗi hiện giờ anh em chúng con so sánh Thượng Tọa (Thích Trí Quang) với nhân vật “NHẠC BẤT QUẦN“, trong tiểu thuyết nổi danh của Kim Dung. Nhạc Bất Quần là chưởng môn của một võ phái nổi tiếng và được giới giang hồ xưng tụng là “Quân Tử Kiếm“, vì lối đánh và đường kiếm của ông rất quân tử. Tuy nhiên mọi người đều lầm. Sau một thời gian mấy mươi năm, ông đã lộ chân tướng của ông là một “ngụy quân tử“, với những mưu mô và thủ đoạn cực ác và cực nham hiểm”... (trang 35).
NGUỒN GỐC GIA ĐÌNH CỦA TRÍ QUANG
Nhân Bạch Thư này, tôi xin giới thiệu thêm về lai lịch, nguồn gốc của Trí Quang, một tên CS nằm vùng hạng gộc, đã tạo nên bao nhiêu biến cố bi thương cho đất nước suốt từ 1963 đến 1975.

TT Trí Quang sanh năm 1922, năm nay đã 75 tuổi, tại làng Diêm Điền (còn gọi là Nại Hiên hay Kẻ Nại), thị xã Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng Bình. Làng Diêm Điền vốn là một làng nhỏ và nghèo khổ nổi tiếng ở miền Trung. Hầu hết dân làng đều làm nghề nông, thợ mộc, hay làm thuê làm mướn, để kiếm sống qua ngàỵ Vì phong thổ, dân làng Diêm Điền có tật nói ngọng, như dân làng Thổ Ngọa, nên đi đến đâu mở miệng ra cũng khó lẫn.
 Vì là nơi nghèo khổ truyền kiếp, nên dân làng Diêm Điền có tính bảo thủ, rất cực đoan, và hết sức quá khích. Trong quá khứ, khi phong trào Văn Thân nổi lên, năm 1885, dân làng Diêm Điền và làng Đồng Đình, cũng thuộc tỉnh Quảng Bình đã kéo nhau đến đốt nhà thờ Sáo Bùn, nằm về phía Nam Đồng Hới, của Thiên Chúa Giáo, tạo nên một trận hỏa hoạn khủng khiếp đã thiêu sống mấy trăm giáo dân trong đó. Sau trận đốt phá, giết chóc tàn bạo này của dân làng Diêm Điền, số giáo dân còn sống sót, đã phải chạy lên phía Bắc Đồng Hới lập nên một giáo xứ mới, gọi là Tam Tòa. Khi phong trào Việt Minh nổi lên, làng Diêm Điền đã dễ dàng trở thành “CÁI NÔI” của Cộng Sản, và dân làng này đều trở thành những tay Cộng Sản rất quá khích và khát máu. Đến năm 1947, khi quân Pháp đã tái chiếm Đồng Hới, vãn hồi an ninh, trật tự, và thiết lập đồn bót canh gác khắp tỉnh Quảng Bình, nhưng từ khoảng thời gian 1947 đến 1954, vẫn không một ai dám bén mảng đến làng Diêm Điền. Vì kẻ nào đã lạc bước đến làng đó đều kể như bị thủ tiêu luôn. Trong hoàn cảnh bần cùng ấy của làng Diêm Điền, TT Trí Quang đã xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khổ và là người anh cả của 3 người em trai. Thuở nhỏ, TT Trí Quang đã được cha mẹ đặt tên cho là Phạm Văn Bồng. Ba người em của ông cũng đã được cha mẹ đặt tên cho. Nhưng vì gia cảnh quá túng quẫn, cha mẹ không nuôi nổi các con, nên người con trai lớn tên Phạm Văn Bồng và người em kế đã phải sớm nương thân cửa Phật để kiếm miếng ăn. Hai anh em lớn nhà họ Phạm đã xuất gia, qui y với Hòa Thượng Phổ Minh, trụ trì ở Đồng Đình, cũng thuộc thị trấn Đồng Hới. Bởi nhân duyên ấy, nên về sau bốn anh em nhà họ Phạm đã được HòaThượng Phổ Minh dùng bốn chữ: Quang, Minh, Chính, Đại, để cải danh cho. Vì thế Phạm Văn Bồng đã cải danh thành Phạm Quang, sau trở thành Thích Trí Quang. Còn ba người em tên là: Phạm Minh, Phạm Chánh, và Phạm Đại.
Nhờ nương thân nơi cửa Phật, nên hai anh em Phạm Quang và Phạm Minh đã được học hành chút đỉnh, khoảng lớp Ba tiểu học. Còn hai em là Phạm Chánh và Phạm Đại đều chịu cảnh hất học. VỢ PHẠM CHÁNH LÀM NỘI ỨNG ĐÁNH ĐỒN Đến năm 1945, khi phong trào Việt Minh nổi lên trên toàn quốc, Phạm Minh đã sớm rời bỏ lớp áo tu hành, tham gia kháng chiến. Nhờ có chút đỉnh chữ nghĩa, nên Phạm Minh đã được phục vụ trong Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Xã, tại địa phương. Còn hai người em, tên Phạm Chánh và Phạm Đại thì xung vào Bộ Đội. Chẳng bao lâu sau, Phạm Chánh được kháng chiến quân phong làm Tiểu Đội Trưởng Dân Quân Du Kích. Nhưng đến ngày 4. 6. 47, Phạm Chánh đã bị lính Pháp phục kích bắn chết tại Đức Phổ, thuộc phía Tây thành phố Đồng Hớị Lúc bấy giờ Phạm Chánh mới 21 tuổi. Còn người em út, tên Phạm Đại làm điều dưỡng viên trong Bộ Đội CSBV vẫn còn sống cho đến năm 1954, khi chia cắt đất nước.

Sau khi Phạm Chánh đã bị Tây bắn chết, người vợ của Phạm Chánh cũng là một kháng chiến quân, đã từ chiến khu quay trở về làng Diêm Điền, xin phép được hồi cư, với lý do được gần gũi phụng dưỡng cha mẹ chồng. Điều nên biết là vợ của Phạm Chánh lúc bấy giờ còn rất trẻ, và là một thiếu phụ nhan sắc mặn mò
i. Vợ Phạm Chánh cầm đơn xin giấy phép hồi cư, lên Đồng Hới, gặp thiếu úy Huỳnh Công Tịnh. Lúc bấy giờ TU Huỳnh Công Tịnh đang giữ nhiệm vụ trưởng Phòng Nhì của Trung Đoàn Nguyễn Huệ, bộ chỉ huy đóng ở Đồng Hới, đã nhận đơn và bắt cô ta phải làm tờ cam kết không hoạt động cho Việt Minh nữa. Vợ Phạm Chánh tuân thủ, cam kết đủ mọi điều.Nhưng TU Huỳnh Công Tịnh vẫn còn nghi ngờ, nên ngầm ra lịnh cho thượng sĩ Phạm Phòng phải theo dõi sát hành tung của đương sự. Đồng thời TU Huỳnh Công Tịnh cũng ra lịnh cho trưởng đồn Diêm Điền biết sự hồi cư rất khả nghi của vợ Phạm Chánh, để đề phòng chu đáo.
Quả nhiên, chỉ vài tuần lễ sau khi mới hồi cư, vợ của Phạm Chánh đã tìm cách lân la đến đồn Diêm Điền, làm quen với các binh sĩ trong đồn. Nhiều khi cô nàng còn đùa cợt lả lơi, ra chiều khêu gợi tình tứ với anh em binh sĩ. Không bao lâu sau, cô nàng tiến gần đến mục tiêu hơn. Vợ Phạm Chánh đem thân xác trẻ đẹp, còn hấp dẫn của mình ra để thực hiện Mỹ Nhân Kế, suồng sã bắt nhân tình với viên trưởng đồn. Trong những lần gần gũi thân mật, viên trưởng đồn nhận thấy cô nàng đã để lộ nhiều hành vi khả nghi như hay hỏi han về tình trạng binh sĩ trú đóng trong đồn, chú ý theo dõi các cuộc hành quân, và nhất là cô nàng đặc biệt quan sát các vị trí phòng ngự chung quanh đồn, các công sự chiến đấu trong đồn v.v... Vì thế viên trưởng đồn đã ngầm báo cáo cho TU Huỳnh Công Tịnh biết, để phác họa sẵn một chương trình “tương kế tựu kế”.

Về mặt địa thế, đồn Diêm Điền nằm về phía Tây, cách thành phố Đồng Hới khoảng một cây số, và là một trong những đồn vòng đai bảo vệ thành phố. Khi đã nắm vững được tin tình báo, quân Cộng Sản Việt Minh sẽ kéo tới tấn công đồn Diêm Điền, lập tức trung đoàn Nguyễn Huệ liền âm thầm mở cuộc bủa vây, bố trí các địa điểm phục kích chung quanh đồn, đồng thời trí các loại súng phóng tạc đạn, súng cối, và các loại trọng pháo đều nhắm vào đồn.Tối hôm đó, như thường lệ, vợ của Phạm Chánh lại vào đồn ngủ với viên trưởng đồn. Khoảng 2 giờ sáng, khi đặc công đã thi hành xong kế hoạch cắt hàng rào kẽm gai, gỡ xong một số mìn chung quanh đồn, vợ Phạm Chánh liền dùng lửa làm ám hiệu, để cho đặc công ở ngoài bò vào trong đồn.

Khi biết chắc đặc công CS đã bò vào sát đồn, viên trưởng đồn mới vùng dậy phóng ám hiệu cho các đơn vị phục kích đồng loạt khai hỏa phản công. Đến lúc bấy giờ, vợ của Phạm Chánh mới biết được kế hoạch của mình đã bại lộ, liền nhảy vào ôm ghì lấy viên đội trưởng. Giữa tiếng súng nổ ròn tứ phía như pháo ran, và tiếng súng cối nổ ì ầm chung quanh đồn, lúc bấy giờ hai người hãy còn trần truồng như nhọng, ôm nhau vật lộn xà ngầ
u. Cuối cùng viên trưởng đồn đã vớ được khẩu súng lục giấu sẵn dưới giường, bắn chết vợ của Phạm Chánh.

Sáng hôm sau, dư luận cả thành phố Đồng Hới đều xôn xao bàn tán về vụ quân CS Việt Minh đã tấn công hụt đồn Diêm Điền. Người ta cũng thì thào bàn tán không ngớt về chuyện vợ của Phạm Chánh, đã dùng Mỹ Nhân Kế, làm nội gián trong vụ tấn công đồn Diêm Điền, nhưng mưu sự bất thành, và người góa phụ, em dâu của TT Trí Quang, đã bị bắn chết tại trận trong lúc thân xác còn lõa lồ.
 Vài ngày sau, bà mẹ của Thích Trí Quang đã bị cơ quan an ninh địa phương bắt giam mấy tuần lễ liền, để tra vấn về vụ người con dâu làm nội ứng trong vụ đánh đồn Diêm Điền. Nói về Phạm Minh, người em kế của Trí Quang, đã đi theo Việt Minh từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Theo ký giả Robert Shaplen, đã viết trong quyển “The Lost Revolution” (Nhà x.b. Harper and Row, 1965), có đoạn kể rằng: Khoảng tháng 5, 1964, sau khi nhà Ngô sụp đổ, người em trai kế của Trí Quang, tên Phạm Minh, vốn là một ủy viên của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Bình đã giả trang làm một tăng sĩ Phật Giáo, đội tên “Thích Diệu Minh” đã cùng với một cán bộ của MTGPMN lén vào chùa Từ Đàm thăm Trí Quang...
TRÍ QUANG BỊ BẮT
Để giúp đồng bào nắm vững được các hoạt động chánh trị thiên Cộng liên tục của Trí Quang, khởi từ thập niên 30 cho đến ngày miền Nam rơi vào tay CSBV, tôi thiết tưởng cần phải mời bạn đọc theo tôi lùi về dĩ vãng, từ khi Trí Quang còn là một tu sĩ trẻ tuổ
i. Tuy khởi đầu, cậu bé Phạm Quang nghèo khổ đã được HT Phổ Minh cho nương nhờ cửa Phật, để có chỗ ăn học. Ở Đồng Hới, thuở ấy ai cũng biết HT Phổ Minh là một vị cao tăng, đức độ. Ngài đã có gia đình rồi mới đi tu.Nhưng ngài chỉ thông thạo Hán Văn, và biết chút đỉnh chữ Quốc Ngữ, chớ không am tường Tây học. Dù vậy, đến năm 1945, HT Phổ Minh lại không theo CSVM. Ngài đã ở lại vùng Pháp chiếm đóng, trong khi nhiều tăng sĩ Phật Giáo đã đi theo kháng chiến. Trong thời gian này, khoảng năm 1934, bác sĩ Lê Đình Thám (thân phụ của ông Lê Đình Duyên, một đảng viên VN Quốc Dân Đảng, cựu giáo sư trung học, cựu đổng lý Bộ Thông Tin, thời Nguyễn Khánh làm thủ tướng, cựu dân biểu thời đệ nhị Cộng Hòa), đã cùng với Thượng Tọa Thích Mật Thể lập ra trường An Nam Phật Học ở Huế, nhắm mục đích đào tạo tăng sĩ. Năm 1942, lúc đó Trí Quang vừa tròn 20 tuổi, đã được tuyển vào học tại trường này, và thọ giáo với Hòa Thượng Thích Trí Độ, giám đốc trường. Năm sau, 1943, Trí Quang tốt nghiệp khóa Phật Học Trung Cấp. Nên biết HT Thích Trí Độ đã gia nhập đảng CSVN từ năm 1941, lúc đảng này còn hoạt động trong bóng tối. Đến năm 1945, sau khi VM cướp chánh quyền, HT Thích Trí Độ được CSVN cử giữ chức chủ tịch trung ương Giáo Hội Phật Giáo Cứu Quốc (PGCQ). Vì thế HT Trí Độ đã kéo một số tăng sĩ theo CS, trong đó có Thích Thiện Minh, làm chủ tịch Ủy Ban PGCQ tỉnh Quảng Trị...Về phần Trí Quang, khi CSVM tuyên bố “toàn quốc kháng chiến”, và ra lịnh cho quần chúng phải tản cư khỏi các đô thị lớn như: Hà Nội, Huế và Sài Gòn v.v..., thì vào khoảng cuối năm 1946, Trí Quang trở về nơi sinh quán, làng Diêm Điền. Một thời gian ngắn sau, Trí Quang lại theo chân TT Thích Mật Thể ra Vinh. Nhưng Trí Quang chỉ ở Vinh có vài tháng, rồi lại quay trở về Diêm Điền, để giữ chức chủ tịch Ủy Ban PGCQ tỉnh Quảng Bình.

Đến năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Đồng Hới, Trí Quang rời làng Diêm Điền, đến cư ngụ tại làng Trung Nghĩa, vì Diêm Điền nằm quá gần thành phố, nên rất khó khăn thực hiện công tác bí mật. Trong thời gian này, Trí Quang hoạt động cùng một tổ với hai cán bộ nội thành của CSVM, tên Nguyễn Toại (còn gọi là Toại Béo), ở Đồng Đình, và Nguyễn Tịch ở Đồng Phú. Chẳng bao lâu sau, cũng trong năm 1947, Trí Quang, Toại Béo và Nguyễn Tịch đều bị Phòng Nhì Pháp theo dõi bắt trọn ổ. Lần này, Trí Quang và Nguyễn Tịch đã bị giam ở Trạm Thiên Văn Tam Tò
a. Tuy bị trói giật cánh khủyu, nhưng không hiểu làm cách nào nửa đêm Nguyễn Tịch đã tự cởi trói và trốn thoát mất dạng. Ít lâu sau Trí Quang cũng đã được Pháp trả tự do. Riêng tên Toại Béo, vì trong thời gian hoạt động cho VMCS, đã chỉ điểm cho CSVM giết hại nhiều anh em hoạt động chánh trị quốc gia, chống CS, nên khi bị bắt, Toại Béo đã phải trả nợ máu. Quân Pháp đã đem Nguyễn Toại ra xử bắn, rồi chặt đầu, đem bêu ở chân Cầu Dài, phía Nam thành phố Đồng Hới. Về sau, Pháp còn đem chiếc đầu lâu của Toại Béo về bêu ở cổng Quảng Bình Quan, nằm về phía Tây thành phố. Nhưng sau khi được trả tự do ít lâu, Trí Quang lại bị Phòng Nhì của Tây bắt lần nữa, vì tội vẫn còn tiếp tục hoạt động bí mật và duy trì liên lạc với các cán bộ CSVM. Sau một thời gian bị giam, Trí Quang đã được một viên chức bảo hộ của Pháp ở Huế bảo lãnh. Lần này Trí Quang đã phải làm tờ cam kết không hoạt động cho CSVM nữa.
Sau lần phóng thích thứ nhì, Trí Quang nhận thấy quê hương Đồng Hới không còn là nơi dung thân với những hoạt động bí mật được nữa, Trí Quang liền vào Huế, trụ trì ở chùa Từ Đàm. Từ đó, bề ngoài Trí Quang làm ra vẻ chỉ chăm lo Phật sự, nhưng ngấm ngầm bên trong ông vẫn tiếp tục hoạt động cho CSVM.
TRÍ QUANG VỚI PHONG TRÀO HÒA BÌNH
Khoảng năm 1953, CSVM khởi sự chiến thuật vừa đánh vừa đàm. Một mặt vẫn đánh nhau kịch liệt với Tây, mặt khác CSVM mở chiến dịch vận động Phong Trào Hòa Bình trong nước và hải ngoại, để áp lực Pháp phải ngưng chiến ở Đông Dương. Vì thế Ủy Ban Bảo Vệ Hòa Bình được CS lập ra, do HT Thích Trí Độ lãnh đạ
o. Ở miền Nam, Trí Quang đã hoạt động tích cực để ủng hộ ủy ban này. Đến năm 1954, sau Hiệp Định Genève, luật sư Nguyễn Hữu Thọ ở Sài Gòn cũng thành lập “Phong Trào Hòa Bình” để yểm trợ cho đường lối chánh trị của CSBV. Ở Huế, lúc bấy giờ Trí Quang đang làm hội trưởng Hội Việt Nam Phật Học, cũng hưởng ứng lời kêu gọi của CSBV, thành lập một Phong Trào Hòa Bình tương tợ như của LS Nguyễn Hữu Thọ. Nhân sự nòng cốt của Phong Trào Hòa Bình ở Huế, do Trí Quang thành lập, ngay từ giây phút đầu tiên đã gồm toàn cán bộ CS nằm vùng thuộc chi bộ Thuận Hóa của bác sĩ Lê Khắc Quyến. Ngoài ra, còn có sự tham gia của một số trí thức miền Trung như: Nguyễn Cao Thăng, bác sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, ông Nguyễn Văn Đẳng v.v... Lúc này ông Diệm đã về nước chấp chánh.

Ngày 29. 8. 54, Phong Trào Hòa Bình (PTHB) đã tổ chức lễ ra mắt tại Sài Gòn, và phổ biến tuyên cáo 2 điểm: yêu cầu quân Pháp rút khỏi miền Nam , và phải tổ chức ngay cuộc tổng tuyển cử theo tinh thần hiệp định Genèv
e. Gần một tháng sau, ngày 21. 9. 54, Phong Trào Hòa Bình tổ chức một cuộc biểu tình khá lớn tại Sài Gòn đòi chánh phủ Ngô Đình Diệm phải trả những người Bắc di cư về lại miền Bắc và tổ chức hiệp thương, rồi tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc.

Trước tình thế đó, bắt buộc chánh phủ Ngô Đình Diệm phải tỏ thái độ. Ngày 7.11. 54, chánh phủ ra lịnh bắt giam tất cả những nhân vật trí thức đã tham gia hoạt động trong phong trào nà
y. Ở Sài Gòn, LS Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang, giáo sư Phạm Huy Thông, Kha Văn Dưỡng, cùng với một số ký giả như Nguyễn Bảo Hóa, Trần Chi Lăng... đều bị bắt.

Ở Huế, Thích Trí Quang, Nguyễn Cao Thăng, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Dương Kỵ, Phạm Văn Huyến v.v...cũng không thoát khỏi mạng lưới an ninh. Nhưng, ở miền Trung, Ngô Đình Cẩn lại muốn nhân dịp này noi gương Gia Cát Lựơng, trổ tài “thất túng, thất cầm” Mạnh Hoạch. Ông Ngô Đình Cẩn đã dùng lời ngon ngọt, đem tiền bạc, địa vị và lợi lộc ra chiêu dụ Trí Quang và đồng bọn. Cẩn tin chắc rằng: với những tài liệu cụ thể của Phòng Nhì Pháp, chứng minh rõ ràng Trí Quang đã từng hoạt động ngấm ngầm cho CS từ lâu, hiện đang nằm trong tay ông, thì Trí Quang sẽ không đời nào dám cựa quậy, hay sanh lòng phản trắc nữ
a.

Đến ngày 9. 2. 55, chánh phủ Ngô Đình Diệm đã ra lịnh tống xuất 26 nhân vật đầu xỏ của PTHB ra Hải Phòng, trao cho CSBV. Nhưng trong số đó đã không có Trí Quang, không có Lê Khắc Quyến và Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Văn Đẳng... Như thế, ta không lấy làm lạ chẳng bao lâu sau, Lê Khắc Quyến đã được gia đình nhà Ngô trọng đãi, làm y sĩ riêng cho thân mẫu của Ngô Đình Cẩn, lại còn được bổ nhiệm làm khoa trưởng Đại Học Y Khoa, Viện Đại Học Huế, giám đốc bịnh viện trung ương Huế. Nguyễn Cao Thăng được làm chủ nhân ông công ty bào chế thuốc tây OPV, tiền bạc vô như nước lụt! Nguyễn Văn Đẳng, từ ngạch Thừa Phái được chuyển ngạch sang Tham Sự Hành Chánh, rồi được bổ nhiệm đi giữ chức tỉnh trưởng. Từ năm 1955 đến 1963, Nguyễn Văn Đẳng đã được bổ làm tỉnh trưởng Thừa Thiên, kiêm thị trưởng Huế.

Riêng Trí Quang thì được Cẩn bỏ tiền ra giúp đỡ trùng tu lại chùa Từ Đàm cho thêm phần khang trang, mỹ lệ. Nên biết chùa Từ Đàm đã xây nên từ năm 1703, thời Minh Vương Nguyễn Phúc Ch
u.Khởi đầu chùa này mang tên “Ấn Tôn Tự”. Đến đời vua Thiệu Trị (1841- 1847) chùa đổi tên là Từ Đàm (3 chữ “n Tôn Tự” bị coi như phạm húy). Vì là một ngôi cổ tự, xây cất bằng những vật liệu thô sơ, nên đến thời Bảo Đại chùa Từ Đàm đã bắt đầu bị hư mục.

Bởi thế trong khoảng thời gian từ năm 1956 đến năm 1963, đồng bào miền Trung, nhất là dân Huế, không còn ai lấy làm lạ khi thấy thỉnh thoảng ông Cẫn đã đến chùa Từ Đàm ăn cơm chay với TT Trí Quang. Ngoài ra ông Cẩn còn tích cực yểm trợ cho các hoạt động Phật Giáo của Trí Quang, ở chùa Từ Đàm, tô điểm thêm hào quang và làm tăng thêm uy tín cho Trí Quang.

Ông Cẩn đinh ninh rằng: với hồ sơ của Phòng Nhì Pháp trong tay cộng thêm sự giúp đỡ tiền bạc dồi dào, chắc chắn ông đã nắm gọn được cả phần hồn lẫn phần xác của Trí Quang. Nhưng ông Cẩn đã sai lầm hoàn toàn. Con rắn CS dù đã lột da bao nhiêu lần, nó vẫn là con rắn. Ông đã chơi trò chánh trị, muốn bắt chước Gia Cát Khổng Minh “thất cầm Mạnh Hoạch”, nhưng rất tiếc, tài trí của ông Cẩn không sánh được với Khổng Minh. Còn Trí Quang lại là một tay cán bộ CS thâm căn cố đế, thì không bao giờ có thể trở thành Mạnh Hoạch được.

Như vậy, nói theo kiểu người Tây phương, ông Cẩn đã “đùa với lửa”, còn nói theo kiểu VN ta thì ông Cẩn đã chơi trò “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà”, chẳng trước thì sau anh em nhà ông Cẩn cũng sẽ bị Trí Quang tiêu diệt, đồng thời kéo theo cả sự sụp đổ của chế độ Đệ Nhất Cộng Hò
a.
TRÍ QUANG VÀ CHẾ ĐỘ DIỆM
Cho đến nay ai cũng biết chế độ Ngô Đình Diệm đã bị quân đội, theo lệnh của Mỹ, làm đảo chánh. Ngược lại, gỉa thiết, nếu bấy giờ Mỹ chưa muốn lật đổ Diệm thì dù cho Trí Quang, Thiện Minh và nhóm Phật Giáo đấu tranh miền Trung có mọc thêm ba đầu sáu tay cũng không làm nên chuyện. Nhưng trên thực tế, ta phải nhìn nhận rằng, lúc khởi đầu Trí Quang và Thiện Minh đã chủ động trong việc phản đối lệnh giới hạn việc treo cờ Phật Giáo nhân dịp lễ Phật Đản năm 1963. Chẳng bao lâu sau cuộc phản đối này đã được sự hộ trợ tích cực của tập đoàn cán bộ CS nằm vùng ở Huế và một số tỉnh ở miền Trung, biến thành cuộc đấu tranh chánh trị, núp dưới danh nghĩa Phật Giáọ Đặc biệt nhất là sự yểm trợ của một số cán bộ cao cấp CS nằm vùng gồm: Võ Đình Cường, Nguyễn Trực và Tống Hồ Cầm... Trong thời gian Trí Quang dùng Phật Giáo để đấu tranh, dân xứ Huế ai cũng thấy Võ Đình Cường, Nguyễn Trực, và Tống Hồ Cầm đều là những cánh tay mặt và tay trái của Trí Quang. Nhưng trên thực tế, các cán bộ CS cao cấp ấy đều là “cố vấn trực tiếp chỉ đạo” của Trí Quang. Vì thực chất Trí Quang chỉ là một tu sĩ Phật Giáo có một trình độ học vấn rất đơn sơ của bậc tiểu học, với một mớ chữ Hán giới hạn đủ để đọc kinh sách. Trí Quang không có trình độ Hán học của một nhà Nho, và cũng không có chút hiểu biết gì về Tây học. Ngoài tiếng mẹ đẻ, Trí Quang không nói được một ngoại ngữ nào, dù là Anh hay Pháp ngữ. Bởi thế, ta thấy đi đâu Trí Quang cũng phải dắt theo Đại Đức Thích Nhật Thiện, như một bí thư kiêm thông dịch viên. Với căn bản đó, nên tầm hiểu biết của Trí Quang rất hạn hẹp, nhất là trên bình diện chánh trị quốc tế.

Theo hồ sơ của Phòng Nhì Pháp, người ta được biết, Võ Đình Cường vốn là một đảng viên CS thâm niên. Cường đã được kết nạp vào đảng từ năm 1943, cùng một lượt với TT Thích Minh Châu, về sau Minh Châu đã trở nên Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh. Viện đại học này tọa lạc ở gần đầu cầu Trương Minh giảng. Võ Đình Cường đã được CS chỉ định công tác tuyên vận trong giới Phật Giáo miền Trung. Suốt trong thời gian từ 1947 cho đến 1965, Võ Đình Cường đã bị bắt giam vì tội hoạt động cho CS nhiều lần, nhưng đều được Trí Quang bảo lãnh, xin trả tự dọ Kể từ cuối năm 1963, tựa vào thế lực Phật Giáo đấu tranh miền Trung đang trên đà thắng lợi, Võ Đình Cường đã ra mặt hoạt động công khai, không còn e ngại gì mạng lưới an ninh của chế độ đệ nhị CH miền Nam. Sau năm 1975, Võ Đình Cường đã được đảng CSVN cử làm dân biểu quốc hội, kiêm tổng biên tập tạp chí Giác Ngộ, cơ quan tuyên vận chánh thức của khối PG thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng CSVN. Trụ sở tạp chí Giác Ngộ đặt ở số 85 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, tp 
Sài Gòn.

Về phần Thích Nhật Thiện, bí thư của Trí Quang, tuy là tay chân thân tín của Trí Quang, nhưng sau ngày 30.4.75, cũng đã bị CSBV bắt giam để điều tra, vì bị tình nghi đã hoạt động gián điệp cho CIA Mỹ. CSBV đã căn cứ trên sự kiện, đêm ngày 22. 8. 63, khi Ngô Đình Nhu ra lệnh cho Công An Cảnh Sát vây bắt tất cả sư sãi trong các chùa Xá Lợi, 
n Quang, Theraveda... không một ai thoát được, duy chỉ có Trí Quang, đã nhờ Thích Nhật Thiện đem đi trốn trong cơ quan USAID, rồi chuyển qua tòa đại sứ Mỹ. (Trong tác phẩm VNNC của Trần Văn Đôn cũng có ghi điều này).

Vậy, phải chăng Thích Nhật Thiện đã có móc ngoặc với CIA Mỹ? Còn Trí Quang thì sa
o? Đó là những vấn nạn trầm trọng cho cả hai thấy trò Trí Quang và Nhật Thiện!

Ngoài ra, tôi còn được biết thêm Thích Nhật Thiện, tên thật là Lê Mậu Chí, còn gọi là Hàm, sanh quán tại Thừa Thiên. Trước di cư năm 1954, Lê Mậu Chí đã làm công an thuộc ty CA Đồng Hới, rồi chuyển vào ty CA Khánh Hò
a. Tại đây, vì gian díu tình ái lăng nhăng, Lê Mậu Chí đã bị đổi ra chi CA Sông Cầu. Không bao lâu sau, năm 1959, Lê Mậu Chí bị sa thải luôn khỏi ngành CA. Mất việc, Lê Mậu Chí mò vào Sài Gòn, xin xuất gia đầu Phật, và học thêm Anh Văn. Khoảng các năm 1963 đến 65, Thích Nhật Thiện trụ trì tại một ngôi chùa thuộc quận Nhì, gần khu chợ Cầu Muốị Trong thời gian này, khi ra tranh cử ở quận Nhì, tôi và Hồ Ngọc Cứ thường gặp Thích Nhật Thiện.
Theo dõi, quan sát kỹ lưỡng cuộc đấu tranh từ khởi đầu, lúc tháng 5. 1963 cho đến ngày miền Nam mất vào tay CSBV, người ta nhận ra các phương thức xách động quần chúng đô thị đấu tranh kiểu Cộng Sản đã được Trí Quang và nhóm Phật Giáo đấu tranh miền Trung đem ra áp dụng triệt để. Cao điểm của cuộc đấu tranh Phật giáo miền Trung đã đạt được là đẻ ra một tổ chức chánh trị hoạt động song hành lấy tên là “HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC” sặc mùi Cộng Sản, và nhóm “LẬP TRƯỜNG”, do toàn cán bộ CS nằm vùng đứng ra lãnh đạo như: Lê Khắc Quyến, chủ tịch chi bộ Thuận Hóa, Lê Tuyên, Tôn Thất Hanh, Nguyễn Ngọc Bang, Cao Huy Thuần, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo (hiện đang ở Pháp)...

Vì cái tên “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” sặc sụa mùi CS, và lộ liễu quá, nên khó thu hút được các thành phần khác, nên chỉ một thời gian ngắn sau, Trí Quang ra lịnh cho cải danh là “LỰC LƯỢNG TRANH THỦ CÁCH MẠNG”. Đây chỉ là trò “bình mới rượu cũ”, một thủ đoạn chánh trị quen thuộc của CS, chẳng khác nào như đảng CSVN cải danh thành đảng Lao Động vậy!

Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng, hậu thân của HĐNDCQ, ra đời với sự tham gia bí mật của nhiều cán bộ cao cấp CSBV, nhắm mục tiêu thừa thắng xông lên, mượn danh nghĩa nhân dân bị độc tài gia đình trị áp bức nổi dậy, cướp chánh quyền miền Nam bằng bạo lực chánh trị. Nếu mục tiêu lớn, toàn quốc không đạt được, Trí Quang sẽ tiến tới kế hoạch thỏa hiệp với một số tướng lãnh gốc miền Trung, tranh đấu đòi “MIỀN TRUNG TỰ TRỊ”, làm cho chế độ miền Nam bị tê liệt.
 Trong thời gian, kể từ sau ngày 1.11.63 trở đi Trí Quang tuy khoác áo tu hành, nhưng thực ra là một lãnh chúa quyền khuynh thiên hạ, các tướng lãnh cầm quyền đều kiêng dè, nể mặt. Điều này ai cũng đã thấy biết. Đặc biệt nhất là Dương Văn Minh, một cán bộ CS nằm vùng ở trong Nam giống hệt như Trí Quang nằm vùng ở miền Trung, đến giờ phút cuối cùng, ngày 30.4.75, vẫn còn phải “nhất bộ tam bái” đến “HOÀNG CUNG ẤN QUANG” chầu chực Trí Quang cả ngày lẫn đêm, để lãnh chỉ thị!

Căn cứ trên các sự kiện kể trên, ta mới có thể hiểu được cách chính xác, vì sao sau ngày chế độ nhà Ngô sụp đổ, các tay chân thân cận của gia đình họ Ngô như: BS Lê Khắc Quyến đã không bị kết tội “DƯ ĐẢNG CẦN LAO NHÂN VỊ”, Nguyễn Cao Thăng, đã kinh tài cho Ngô Đình Cẩn và đảng Cần Lao mà không bị rụng sợi lông chân nào, lại còn được hưởng trọn gia tài OPV của Cẩn để lạ
i.
Riêng vụ nổ trước đài Phát Thanh Huế, chỉ riêng một mình thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng Nội An, cấp thừa hành của tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, bị đưa ra tòa truy tố và bị tù khổ sai chung thân. Trong khi đó, tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, kiêm thị trưởng thành phố Huế, người chịu trách nhiệm toàn bộ hành chánh và an ninh tại địa phương lại được nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, rồi về sau lại còn được chuyển về bộ Quốc Phòng giữ chức Công Cán Ủy Viên, thời tướng Đôn làm tổng trưởng.

Bạn đọc có biết tại sao không? Vì Đẳng vốn là tay chân bộ hạ thân tín từ lâu của Trí Quang trong các Phong Trào Hòa Bình đấy!

photo

Mar 23, 1964 - Gen. Duong Van Minh (L) greeting Dr. Le Khac Quyen (R)

Tướng Minh bắt tay BS Lê Khắc Quyến, một thành viên trong Thượng Hội Đồng Quốc Gia

CẤU KẾT GIỮA TRÍ QUANG VÀ LÊ KHẮC QUYẾN
Trong phong trào Phật Giáo đấu tranh miền Trung năm 1963, do Trí Quang và một số tăng ni nằm vùng và toàn thể cán bộ CS trong chi bộ Thuận Hóa của Lê Khắc Quyến tích cực yểm trợ. Bọn CS nằm vùng này biết rõ hơn ai hết, các thầy trong chùa Từ Đàm chỉ có một số PT giới hạn, nhưng không có cán bộ xách động đấu tranh chuyên nghiệp. Bọn CS có cán bộ thành thạo việc xách động quần chúng, biết cách tổ chức đấu tranh có qui củ. Trong khi đó quần chúng VN đại đa số đều nghèo khổ, không có địa vị, nên thường dễ dàng nghe theo lời tuyên truyền rỉ tai, và dụ dỗ của CS nằm vùng. Nếu có kẻ nào cứng đầu, không nghe, bọn CS nằm vùng không ngần ngại gì áp dụng ngay biện pháp hù dọạ Có khi chúng dùng chính bàn tay của cơ quan an ninh và chánh quyền địa phương mù quáng, để thực thi những lời hăm dọa của chúng, khiến cho người dân thấp cổ bé họng chẳng còn biết nương tựa vào ai, phải khiếp sợ ngấm ngầm CS.

Ngay trong giai đoạn đầu, bọn cán bộ CS nằm vùng kể trên đã xuất hiện với lý do chính đáng là ủng hộ triệt để yêu sách của Phật Giáo, nguyện hy sinh tranh đấu cùng các tăng ni, Phật tử, rồi lại còn hô hào vận động thêm quần chúng tham gia đông đảo hơn nữạ Sau đó các thầy được đề cao lên đến tận chín tầng mây xanh, tưởng chừng như đức Phật Thích Ca sống lại cũng không bằng. Trong trường hợp này, dĩ nhiên các thầy đều không khỏi sướng rên lên. Vì các thầy đâu đã thành Phật hay Bồ Tát gì. Trong bụng ông thầy tu nào cũng vẫn có một phần cơm và một phần cứt như mọi chúng sinh thôi!

Từ đó các thầy chẳng khác nào những con cá đã ngậm phải lưỡi câu vô hình của bọn CS nằm vùng. Khi chợt biết ra, các thầy muốn nhả lưỡi câu trong họng cũng không còn kịp nữ
a. Vả lại, một khi đã được "thần thánh hoá" rồi còn ai dại gì muốn quay đầu trở lại, hiện nguyên hình làm một tên phàm phu tục tử nữả! Aáy là chưa kể đến yếu tố TT Trí Quang chính là một cán bộ CS gộc. Điều này, tôi sẽ chứng minh trong một đoạn tớị Sau hơn 20 năm lưu vong, đồng bào tị nạn ở hải ngoại cũng như trong nước đều đã biết hết cả rồi.
Trong đoạn này, tôi cần phải chứng minh cho mọi người thấy rõ cuộc đấu tranh của PG miền trung đã bị CS nằm vùng thao túng và lộng hành từ đầu đến cuối, như đang giữa thủ đô cờ đỏ sao vàng Hà Nộị Các sư Trí Quang, Thiện Minh chỉ là những kẻ cho mượn danh nghĩa, các chùa Từ Đàm, Diệu Đế chỉ là diễn trường của những vở bi hài kịch, và lá cờ PG chỉ là một cái vỏ bọc ngoài của một cái nhọt chánh trị đã tới hồi cương mủ, phải được xì r
a.
Nếu bạn đọc là những người từng theo dõi thời cuộc nước nhà trong những tháng từ 5 đến 11, năm 1963, chắc hẳn chưa quên tờ báo "LẬP TRƯỜNG", với nhóm cán bộ CS nằm vùng đứng đầu là BS Lê Khắc Quyến. Ngay từ lúc này, chi bộ Thuận Hóa của bác sĩ Lê Khắc Quyến, anh em nhà Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo (hiện đã đào tẩu thiên đàng CS, chạy qua

Paris rồi!), Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Thân Trọng Phước, Võ Đình Cường, cư sĩ PG, tác gỉa cuốn "ÁNH ĐẠO VÀNG"... đã nhập cuộc. Hiện nay Lê Khắc Quyến đã chết rồi, nhưng các đồng chí của ông ta vẫn còn sống và đang hoạt động cho CS. Bây giờ Võ Đình Cường đang phụ trách báo "GIÁC NGỘ", ở đường Nguyễn Đình Chiểu, (tên cũ Phan Đình Phùng) là một tờ báo của tổ chức PG quốc doanh Hơn thế nữa, nhóm CS nằm vùng này lại còn lập ra một tổ chức nhân dân hoàn toàn rập khuôn theo kiểu CS, với cái danh xưng cũng nồng nặc mùi CS là: "HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC". Chính Lê Khắc Quyến đã đứng tên chủ tịch của Hội Đồng. Nhóm ấy đã núp dưới danh nghĩa PG đấu tranh, lợi dụng tình thế rối loạn ở miền Trung, ngày 21. 9. 1964 đã tụ tập và kéo nhau đến đánh chiếm đài phát thanh Huế, đốt phá nhiều cơ sở chánh quyền ở Huế và Qui Nhơn... Đêm 23.1.65, bọn "HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC" của Lê Khắc Quyến còn kéo nhau đến phòng thông tin Mỹ ném đá và đốt cháy thư viện Mỹ, gây thiệt hại trên 5000 quyển sách. Khi đó, ông phó lãnh sự Mỹ hay tin, đến nơi lo chữa cháy để cứu sách trong thư viện cũng đã bị bọn tay chân bộ hạ của Lê Khắc Quyến chọi đá vào ông ta, khiến ông ta đã bị thương trầm trọng, phải đưa vào nhà thương cấp cứụ Hành động lợi dụng danh nghĩa PG đấu tranh chống kỳ thị tôn giáo, bọn Lê Khắc Quyến và HĐNDCQ của hắn đã phá rối nền trị an ở Huế đến cùng cực. Những ai đã từng ở Huế trong thời gian này đều không khỏi ngao ngán, tưởng chừng như là một nơi "VÔ CHÁNH PHỦ" hay CSBV sắp vào tiếp thu đến nơi rồi! Mặc dù Lê Khác Quyến và đồng bọn đã hành động phản bội quân dân miền Nam cách trắng trợn và công khai như thế - chỉ còn thiếu việc kéo cờ đỏ sao vàng lên Ngọ Môn Quan nữa mà thôi! - nhưng hắn vẫn không bị điều tra, và chẳng gặp chút khó khăn nào trước chánh quyền và luật pháp. Ngược lại, bọn độc tài quân phiệt Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Nguyễn Văn Thiệu... vẫn còn trọng dụng và ưu đãi hắn.

Ngày 8. 9. 1964, Lê Khắc Quyến và Tôn Thất Hanh đã được bổ nhiệm vào cái gọi là: "THƯỢNG HỘI ĐỒNG QUỐC GIA".

Sau đó Lê Khắc Quyến lại còn được đổi vào Sài Gòn cho làm giám đốc bệnh viện Sùng Chính, trong Chợ Lớn. Vây, Lê Khắc Quyến là aỉ Nhân dân cố đô Huế không ai lạ gì ông bác sĩ đã được hưởng nhiều ơn mưa móc nhất của gia đình nhà họ Ngô trong suốt 9 năm trờị Đồng thời người dân xứ Huế cũng thừa biết ông ta là người "thân với bên kia"!
LÊ KHẮC QUYẾN LÀ AI.
Ngay từ khi ông Diệm chưa về nước chấp chánh, năm 1952, BS Lê Khắc Quyến đã được gia đình nhà họ Ngô mời làm y sĩ riêng cho thân mẫu của ông Diệm. Đến khi ông Diệm về nước, làm thủ tướng, rồi làm tổng thống, quyền uy lừng lẫy một thời, ở ngoài Trung, ông LK Quyến ra vào dinh Phủ Cam hàng ngày như ra vào nhà của ông. Ngoài những ưu đãi về vật chất và thế lực chánh trị, LK Quyến còn được ông Diệm tặng riêng cho một chiếc xe du lịch hiệu Mercedes, trị gía khoảng 200.000 đồng. Thời kỳ 1955-56, loại xe này được qui định là xa xỉ phẩm, cấm nhập cảng cho quần chúng xử dụng. Xe đó thuộc chế độ ưu tiên nhập cảng, chỉ dành riêng cho chánh phủ và một số dân biểu gia nô trong quốc hội đệ nhất Cộng Hòạ Tưởng cũng nên nhắc lại một chút dữ kiện để bạn đọc trẻ tuởi ở hải ngoại dễ hình dung trị gía của số tiền 200.000 đồng VN thời 1955-56. Lúc ấy, người công chức chỉ được lãnh mỗi tháng khoảng 1.800 đồng. Với số lương đó, người ta có thể nuôi được vợ và một đứa con! Nhờ dựa vào thế lực nhà Ngô, LK Quyến còn được dạy học tại đại học Y Khoa Huế, và sau đó kiêm luôn chức khoa trưởng Y Khoa, thuộc viện đại học Huế.

Trong thời kỳ này chi bộ Thuận Hoá, dưới quyền chỉ huy của cán bộ LK Quyến vẫn âm thầm hoạt động, thật kín đáo, để không bị lộ tung tích. Dù bận rộn một lúc nhiều chức vụ, nhiều công việc quan trọng, như: y sĩ riêng cho bà thân mẫu TT Diệm, giáo sư, khoa trưởng phân khoa y học, bác sĩ LK Quyến vẫn cố gắng duy trì phòng mạch của ông, đã mở từ trước năm 1952, tại gần cửa Thượng Tứ, Huế. Vì chính nơi đây là trạm giao liên, đồng thời còn là trạm cứu thương, đặc biệt dành cho các cán bộ CS cao cấp thường lén về nằm điều trị. Phòng mạch của LK Quyến đã được trang bị chẳng khác nào như một bệnh xá, có nhiều giường điều trị, với đầy đủ tiện nghi tối tân cấp cứu và giải phẫu ngoại kho
a.
Bệnh nhân, nếu là thường dân, muốn đến phòng mạch của BS Quyến để khám bệnh phải xin thẻ trước, lấy số trước, hoặc phải lấy ngày, giờ hẹn trước. Nhưng các cán bộ CS, đồng chí của BS thì được ưu tiên nhận bệnh và ưu tiên điều trị, không cần phải có một thủ tục nàọ Bởi các bệnh nhân đặc biệt ấy đã được thông báo trước bằng giao liên, hay bằng mật mã, ám hiệu, hoặc bằng khẩu hiệu đặc biệt của cơ sở, trong trường hợp nghiêm trọng và cấp bách. Tôi xin đơn cử một trường hợp điển hình, cụ thể, mà tôi đã biết được. Dĩ nhiên, còn vô số trường hợp khác nữa, mà tôi không biết hết. Vào khoảng mùa Hè, năm 1952, một cán bộ CS hạng gộc, tên Oanh, thuộc xã Hương Bình, quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, con ông Viên Tứ, khá nổi tiếng ở Huế, đã bị “cảm sốt cấp tính” rất nặng, có thể nguy đến tính mệnh, đã được BS Quyến đặc cách nhận bệnh, và chữa trị trong phòng riêng của phòng mạch, không ghi vào sổ nhận bệnh hay danh sách bệnh nhân. Tóm lại không để lại một dấu vết nào của tên Oanh trong hồ sơ.

Nhân viên trong phòng mạch của BS Quyến đều là cán bộ giao liên của CS. Ngoài một người y tá đàn ông, tên Nuôi, còn có một nữ y tá tên Thảo, người ở thôn Vỹ Dạ, Phú Vang, đã có chồng đi tập kết. Đến sau năm 1954, nữ y tá Thảo của BS Quyến cũng bỗng nhiên biến mất khỏi phòng mạch, không ai biết đi đâu, và cũng chẳng ai tìm ra tông tích. Về sau, trong thời kỳï Tết Mậu Thân, người dân đất Thần Kinh mới đột nhiên hoảng vía khi thấy vợ chồng nữ y tá Thảo thình lình xuất hiện. Theo tôi, người biết rõ tông tích của BS Lê Khác Quyến nhất, hiện nay còn đang sống ở Pháp, là ông Võ Như Nguyện, người đã từng giữ chức giám đốc Công An Trung Phần từ trước năm 1954. Còn thiếu tướng Đỗ Mậu, tuy đã từng nắm chức vụ giám đốc Nha An Ninh Quân Đội trong một thời gian khá lâu dài, dưới thời đệ nhất CH, nhưng cũng đã tỏ ra không biết gì nhiều về mặt trái của LK Quyến. Có thể TT Đỗ Mậu đã e ngại tư thế của LK Quyến, y sĩ điều trị riêng cho thân mẫu của tổng thống Diệm, và là người đã được ông Cẩn rất trọng nể, nên không dám sờ đến. Trong quyển hồi ký VNMLQHT, khi đề cập đến những biến động dữ dội tại miền Trung, dưới thời kỳ tướng râu dê Nguyễn Khánh cầm quyền, tác gỉa cũng chỉ nhận xét về BS Lê Khắc Quyến bằng một câu đơn giản như sau: "Trong hàng ngũ đấu tranh Phật Giáo, trước hết có các ông Lê Khắc Quyến, chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc là một phần tử thân kháng chiến mà nhiều người ở Huế biết rõ." (trang 912).Về mặt nổi LK Quyến làm chủ tịch HĐNDCQ, nhưng về mặt chìm, LK Quyến còn là chi bộ trưởng của chi bộ Thuận Hoá của CSBV. Thành phần cán bộ đảng viên gồm những người có tên sau đây: Tướng Lê Văn Nghiêm, trước năm 1954, khi quân Pháp vừa thất trận Điện Biên Phủ, đồng thời cũng là lúc mặt trận chánh trị Quốc-Cộng ở VN đang sôi động nhất, đã vội vã đem dâng toàn bộ bản đồ hành quân, có chấm tọa độ sẵn, trao cho người thân tín đem ra khu cho CS. Người đó là thầu khoán Nguyễn Ngọc Bang, một đồng chí của Lê Khắc Quyến và Lê Văn Nghiêm. Lúc bấy giờ Lê Văn Nghiêm đang mang lon trung tá. Ông ta vốn xuất thân lính khố xanh. Nhờ đã lập được nhiều công trạng hữu ích cho cách mạng từ nhiều năm qua, nên sau năm 1975, cựu tướng Lê Văn Nghiêm đã không bị quân CSBV bắt đi học tập cải tạo như hàng trăm ngàn sĩ quan khác trong quân đội Ngụy quyền miền Nam . Ông ta đã được CSBV ưu đãi cho ở nhà hú hí với vợ con, tại đường Lý Thường Kiệt, ở Huế, cho đến khi chết. Lê Văn Nghiêm vốn là bạn thân với BS Lê Khắc Quyến, Nguyễn Ngọc Bang và Thân Nguyễn Ngọc Bang vốn làm nghề thầu khoán xây cất, khá nổi¼Trọng Phước tiếng ở miền Trung. Vào khoảng năm 1984, Nguyễn Ngọc Bang đã được sang Mỹ tị nạn theo diện đoàn tụ gia đình, nhưng ông ta đã qua đời khoảng năm 1991.

Một cán bộ CS khác tên Trí, làm nghề thợ mộc, có xưởng mộc tại đường Nguyễn Hoàng (tên cũ) ở Huế. Trong vụ tàn sát ở Huế dịp tết Mậu Thân, tên Trí đã lập thành tích lớn, một tay đã giết khá nhiều người.Theo hồi ký của tướng CS Lê Minh (nay đã chết) có đoạn ghi nguyên văn như sau:

”Riêng chuẩn bị cho Mậu Thân chúng tôi đã đưa 200 khẩu súng với chất nổ C4 vào bên trong nhà anh Lê Hữu Trí, Minh-Cận đều chứa vũ khí ”.
Ngoài ra, tôi còn được biết thêm: Tên Trí đã hoạt động cho CS từ thời Pháp còn ở VN, rồi đến đệ nhất và đệ nhị CH không hề bị khó dễ. Tôi càng ngạc nhiên khi thấy các cơ quan an ninh dân sự lẫn quân sự đều làm lơ trước những hành động phi pháp của hắn. Tôi thấy, trước khi vụ tết Mậu Thân diễn ra, nếu chính quyền VNCH ở địa phương bắt tên Trí và đồng bọn, thì hàng vạn đồng bào ở cố đô Huế đâu đã bị chết thảm trong bàn tay tàn ác của quân CSBV! (Vậy mà tướng Trưởng, lúc bấy giờ là người có trách nhiệm bảo vệ Huế, còn dám trơ trẽn chạy tội, tuyên bố với báo chí là ông ta đã áp dụng chiến thuật... ” dụ địch”! Tội ấy với lời nói ngu xuẩn này thực đáng đem ra xử bắn tại chỗ theo quân pháp ).
Sau ngày 30.4. 75, người dân xứ Huế đã thấy tên thợ mộc Trí, một đồng chí trong chi bộ Thuận Hóa của BS Quyến, đã xuất hiện hoạt động công khai cho chánh quyền CS tại địa phương. Ngoài ra, chi bộ Thuận Hoá của BS Quyến còn có 2 vợ chồng tên Hiển, làm nghề bào chế thuốc tây (préparateur en pharmacie). Vào khoảng năm 1950-51, tên Hiển đã bị Tây hành quân, phục kích bắn chết trong một đêm kia tại bến đò "BA BẾN", nằm về phía quận Hương Thủỵ Còn người vợ của Hiển, sau đó cũng đã bị khai trừ ra khỏi đảng, không hiểu vì lý do gì. Hiện nay người đàn bà này đang sống tị nạn tại Canada, gần chỗ tị nạn của mấy người con của BS Quyến, và mấy người con của tướng Lê Văn Nghiêm.Nếu bạn đọc còn chưa hài lòng về những thành tích nằm vùng, ăn cơm quốc gia thờ ma CS của bác sĩ Lê Khắc Quyến, thì đây, tôi xin kể tiếp một bằng chứng nữa:Chuyện không may này bất ngờ đã xảy ra vào khoảng cuối năm 1962. Hôm ấy, ty Công An tỉnh Thừa Thiên đã trình sang tòa hành chánh tỉnh một công văn "MẬT" có liên quan đến BS Quyến. Người tiếp phát công văn "MẬT" ấy là Công Tằng Tôn Nữ Như, một nữ tu xuất, em của ông Bửu Đồng (ở Đức*) và là chị của ông Bửu Sao (ở Orlando, Mỹ), con ông Ưng Trạo, có trách nhiệm trước tiên vô sổ công văn, ghi trích yếu, rồi mới phân phối ra, đệ trình lên cấp thẩm quyền giải quyết. vì công văn "MẬT" này có tầm mức quan trọng đặc biệt, nên giới chức trong tòa tỉnh đã phải cấp tốc trình thẳng lên ngay cho ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng duyệt xét. Nội dung công văn MẬT ấy như sau:

-"Một xe chở đầy thuốc tây đã bị lật trên lộ trình Cầu Hai - Lăng Cô, quốc lộ 1, thuộc địa phận quận Phú Lộc. Người phụ trách chuyến xe chở thuốc tây này tên là Phạm Văn Nhân, nhân viên tùng sự tại bệnh viện Huế. Trong cuộc thẩm vấn sơ khởi của công an, Phạm Văn Nhân khai là chở thuốc tây cung cấp cho chi y tế quận Phú lộc, theo lệnh của BS Lê Khắc Quyến, giám đốc bệnh viện..."Theo tường trình của công an tỉnh thì lời khai của Phạm Văn Nhân hoàn toàn sai sự thật. Vì 2 lẽ sau đây:- Vấn đề giao thuốc tây cho các Chi Y Tế thuộc phần việc và trách nhiệm của Ty Y Tế tỉnh, tuyệt nhiên không liên quan gì đến bệnh viện Huế, dưới quyền điều khiển của BS Quyến.

- Chi Y Tế Phú Lộc nằm tại Truồi, quận lỵ, chứ không phải Cầu Hai - Lăng Cô. Nên biết rằng từ Lăng Cô đến đèo Hải Vân không xa mấỵ Nơi đây vốn là địa điểm giao liên quan trọng của Cộng Sản suốt trong thời kỳ chiến tranh.Theo tường trình của công an tỉnh thì đây là vụ tiếp tế thuốc tây cho CS, và bởi thế nên công an đề nghị nên cần phải thẩm vấn BS Quyến, rồi lập các thủ tục cần thiết chiếu theo luật định.Vì công văn này chỉ là bản sơ trình, nên cần phải được cấp trên cho phép tiến hành thủ tục thẩm vấn, nhiên hậu mới có thể thiết lập hồ sơ theo luật định. Sau khi hồ sơ đã hoàn tất mới tái trình lên tòa tỉnh và các cơ quan thẩm quyền liên hệ, để thực hiện giai đoạn chót của thủ tục là truy tố can nhân và tòng phạm ra tòa án. Nhưng công văn MẬT này của Ty Công An tỉnh đã bị một bàn tay cao cấp nào đó trong guồng máy chánh quyền thủ tiêu luôn. Thế là nội vụ bị xử chìm xuồng, và tội tiếp tế thuốc tây cho CS của BS Quyến cũng được ếm nhẹm luôn.

Điều đáng nói thêm ở đây, nhân viên có trách nhiệm tải thuốc tây cho CS tên Phạm Văn Nhân lại chính là cháu ruột của Phạm Văn Đồng, lúc bấy giờ đang làm thủ tướng chánh phủ CSBV, anh em với giáo sư Việt Văn Phạm Văn Diêu, ở Sài Gòn. Anh Phạm Văn Diêu lớn hơn tôi vài tuổi và đã dạy chung với tôi trong nhiều trường tư thục ở Sài Gòn. Dịch vụ tiếp tế thuốc tây cho CS ở miền Nam, trong suốt thời kỳ chiến tranh, nhất là dưới thời các tẩu tướng tham nhũng, thối nát cầm quyền, đã trở thành gần như "CÔNG KHAI PHỔ BIẾN". Chẳng tin, xin cứ hỏi các ông bà chủ các viện bào chế như: Trang Hai, La Thành Nghệ, Nguyễn Cao Thăng, Trương Văn Chôm, và các dược sĩ như: Ngô Khắc Tĩnh, Trần Văn Lắm, cựu chủ nhân nhà thuốc tây Cường Lắm, ở góc đường Thủ Khoa Huân và Lê Thánh Tôn, gần tiệm vàng con cọp Nguyễn Thế Tài...thì rõ!

Để có một cái nhìn chính xác về biến động miền Trung, tôi nhận thấy cá nhân ông Diệm là người có tư cách đạo đức hơn hẳn nhiều người khác mà tôi đã có dịp biết. Ông Ngô Đình Nhu xứng đáng là người trí thức, có mưu lược, tư tưởng phóng khoáng, quan niệm về tôn giáo và chánh trị rất dứt khoát. Hai ông ấy không cuồng tín và chủ trương kỳ thị tôn giáo như ông Ngô Đình Thục. Nên nhớ là vào khoảng năm 1956-57, tổng thống Ngô Đình Diệm đã duyệt y việc thành lập Phật giáo thống nhất, cho phép các khuôn hội, Niệm Phật Đường mở cửa tự do, và các Phật tử trên toàn quốc dược tự do đi lại hành lễ, không có ai cản trở hay làm khó dễ điều gì.

Như thế chắc chắn lệnh cấm treo cờ trong dịp lể Phất Đản năm Qúi Mão là do sự đốc thúc của ông Thục. Ông Thục muốn phục vụ đắc lực "nước Chúa" của ông, nhưng không ngờ lại di hại cho toàn thể các em trong gia đình ông, khiến những người này đều bị chết thảm! Riêng ông Thục đã may mắn thoát thân, khỏi bị nhân dân đòi nợ máu, ngay trong khi biến cố trọng đại của đất nước còn đang diễn tiến.

Ngày xưa, nếu nhà vua mù quáng mà có được bầy tôi trung thành, nghĩa khí, như Biển Thước dám mắng tận mặt vua Tần Vũ Vương, thì dù cho ông vua có hôn mê, đần độn đến đâu cũng phải tỉnh ngộ, và đất nước lo gì không có ngày hưng thịnh. Ngược lại, ngay từ đầu, triều đình nhà Ngô đã bị bao vây bởi một số linh mục di cư chỉ biết có quyền lợi trước mắt. Đến khoảng cuối thập niên 50 sang đầu thập niên 60, triều đình này lại bị bao vây bởi một lũ văn quan, võ tướng bất tài, nhưng lại đặc biệt giỏi về tài nịnh hót, bợ đỡ. Đứng đầu sổ gia nô là các ông: Trương Vĩnh Lễ, cựu chủ tịch quốc hội bù nhìn, Nguyễn Phương Thiệp, tổng thơ ký quốc hội, Bùi Văn Lương, nguyên tổng ủy trưởng Dinh Điền, sau làm bộ trưởng Nội Vụ, thay thế thẩm phán Lâm Lễ Trinh. Về phía quân đội thì có Tôn Thất Đính, Huỳnh Văn Cao, Trần Thiện Khiêm... đã từng được coi như con nuôi của ông Diệm. Riêng Trí Quang và Lê Khắc Quyến cũng là những kẻ đã được hưởng ơn mưa móc rất dồi dào của chế độ. Nhưng về sau chính những kẻ thọ ơn ấy đã âm mưu giết chủ của họ. Lòng dạ con người thật là phản trắc vô thường. Đáng ghê sợ thật!
TRÍ QUANG CHO MINH CỒ LEO CÂY THA MỠ BÒ!
Từ lâu Dương Văn Minh đã đặt hết kỳ vọng vào TT Trí Quang, coi Trí Quang như một cố vấn chỉ đạo đặc biệt, một trung gian thế lực, để thiết lập mọi thương thảo với quân CSBV.Mặt nạ “NẰM VÙNG” và “THAM VỌNG CÁ NHÂN” của Dương Văn Minh và Trí Quang mãi đến phút chót của Sài Gòn mới được hai người ấy tự tay gỡ xuống.

Theo lời của tướng Nguyễn Hữu Có, lúc ấy đang đóng vai phụ tá cho ông Minh, kể lại nguyên văn như sau:

-"Ngày 29.4.75, là ngày tôi vất vả nhất. Đi đâu Minh Cồ cũng đem tôi theo, nhất là họp hội bên Ấn Quang. Lệnh thầy (Trí Quang) bảo đến lúc nào là đi lúc đó. Tội nghiệp cho Minh Cồ làm tổng thống nhưng lại giữ nhiệm vụ kẻ thừa hành, giống như một đại đội trưởng nhận lệnh miệng của tiểu đoàn trưởng thôị Nhiều lúc tôi tự nghĩ Minh Cồ làm tổng thống hay Thích Trí Quang đâỷ...Tôi nhớ có một lần họp tại Ấn Quang do Thích Trí Quang chủ tọa cùng một vài thầy chùa khác, tôi không biết mặt và tên. Phía bên này có Minh Cồ, ông Mẫu, Lý Chánh Trung. Tôi ngồi sau lưng Minh Cồ (gần như cố vấn quân sự của Minh Cồ). Thích Trí Quang nhìn tôi với cặp mắt nhỏ, sâu, đầy nham hiểm, lườm một cái để chuyển sang hướng khác. Mình cũng biết chứ, “thầy” có ưa gì mình đâu vì vụ “bàn thờ Phật“ xuống đường 1966 và vụ biến động lớn miền Trung đâu có thể xóa đi trong đầu óc Trí Quang với ba tên “Thiệu-Kỳ-Có”. Rõ ràng với tôi, Trí Quang không bao giờ ưa và tôi nghĩ rằng nếu ”thầy“ có dịp là trả thù.

Tuy biết phận mình, nhưng Minh Cồ đâu còn ai bên cạnh trong việc đánh đấm? Hơn nữa, lúc đó có lẽ Minh Cồ cũng hiểu rằng chỉ có tôi mới thực sự vì ông ta, vì chính cái thành công của ông ta là cái thành công của tôị Ở đời ai cũng có tham vọng lớn cả và luôn luôn nghĩ rằng mình sẽ đạt được. Cũng chính vì thế mà đã lắm chuyện.

Thực sự hôm nay ở trong tù tôi nghĩ lại mà thấy tội nghiệp cho Minh Cồ, thích làm tổng thống mà khả năng quá hạn chế, do đó bị Thích Trí Quang điều khiển đủ mọi chuyện...

Ngày lịch sử trong đời làm chánh trị của Minh Cồ không phải là ngày nhận chức tổng thống mà chính là ngày 29.4.75, vì ngày này từ 8 giờ sáng đến 12 giờ khuya Minh Cồ và tôi phải đến "HOÀNG CUNG ẤN QUANG" 5 lần và lần nào cũng với nội dung là "THẦY" cũng hứa hẹn một cách chắc chắn không thể sai lệch là sắp xong. Bên kia chậm lắm là tối 29.4.75 hay sáng 30.4.75 sẽ bàn thảo việc thành lập Chánh Phủ Liên Hiệp...

Sở dĩ đêm 29.4.75 có chuyện tôi đi đến Ấn Quang cũng là vì lời hứa miệng của Thích Trí Quang nàỵ Sau lúc 2 giờ sáng, chúng tôi phải rời Ấn Quang về dinh Độc Lập chờ ý “thầy”. Mệt mỏi thật, Minh Cồ ngồi nơi bàn tổng thống bên cạnh một dàn điện thoại, trong đó có một cái đặc biệt nhất dễ nhận ra là cái dành riêng cho “thầy“. Đường dây cho “thầy“ không phải là ưu tiên Một mà ưu tiên “super“, có thể nói đối với Minh Cồ là “over super“.

Chúng tôi mỗi người một chỗ ngồi nghỉ hoặc ngả lưng trên sofa chờ tin tức (phái đoàn bên kia tới để họp bàn). Rõ ràng lời “thầy“ vừa mới nói: ”Tổng thống cũng như quí ngài đây yên chí, tôi đã cho người liên lạc được với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và họ đã gặp riêng tôi nói chắc rằng đã lập xong phái đoàn đang trên đường đến đây, vì bí mật nên không cho biết giờ tiếp đón. Quý ngài cứ yên tâm về nghỉ và khi họ đến là tôi điện thoại ngay...”

Ra về, tôi thấy nét mặt của Minh Cồ còn hy vọng nhiều, ông Mẫu thì thinh thinh ít nóịLý Chánh Trung đến giờ phút ấy vẫn hớn hở, riêng cá nhân tôi thấy tình hình ồn ào lộn xộn tại nội thành Sài Gòn đã đến lúc phải nổ tung và không thể tránh khỏi...

4 giờ 30 sáng 30.4.75, Minh Cồ sốt ruột không thể chờ thêm được nữa phải nhắc điện thoại lên xin gặp “thầy” trong khi tiếng đì đùng của loại súng AK nghe càng rõ mồn một. Minh Cồ càng quýnh hơn:

-”Thưa thầy, tôi tổng thống Dương Văn Minh, muốn biết ý kiến thầy, sao chờ đến giờ này không thấy gì hết? Anh em chúng tôi đang có mặt hết tại đây, tình hình hiện tại quá lộn xộn, xin thầy quyết định thế nào chớ, tôi thấy hoàn toàn bí lối, có lẽ nguy khốn hơn, chớ không thể nói gì với bên kia được...”
Tiếng Thích Trí Quang rè rè trong điện thoại:

-”Thưa tổng thống, cũng như tổng thống là tôi vẫn chờ đến giờ này (không biết đây là lời nói thật của ổng hay nói dối) và theo tôi nghĩ có lẽ với tình thế hiện tại, trong sứ mạng của tôi, người đứng trung gian bắc nhịp cầu của thế cờ chánh trị, có thể nói là chấm dứt. Với trọng trách là tổng thống, hơn nữa là một đại tướng, tôi nghĩ công việc phải nhờ vào tài quân sự của đại tướng, chứ giải pháp chánh trị của tôi coi như chấm dứt, và nếu từ giờ phút này nếu có chuyện gì xảy đến thì mọi trách nhiệm đều do tổng thống, à quên đại tướng quyết định với giải pháp quân sự, mà trong lãnh vực này đại tướng rất rành giỏi hơn tôị Xin chào tổng thống...”Minh Cồ chỉ trả lời gọn một câu:”Thầy giết tôi rồi!”
 và cúp máỵ Lúc đó là 5 giờ kém 15 sáng 30.4.75 “...
(trích trong bài "TÂM TÌNH TƯỚNG CÓ TRONG NHÀ TÙ HÀ TÂY" của nhà báo CS Hồ Văn Quang ghi lại).
TRÍ QUANG DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN
Hiện nay Thích Trí Quang hãy còn sống ở Việt Nam . Nhưng từ 1975 cho đến bây giờ, đã 23 năm qua, không ai nghe nói đến một hoạt động nào, hay một lời tuyên bố nào của người tu sĩ nà
y.Ngay cả những vụ chống đối CSVN về việc thành lập tổ chức Phật Giáo Quốc Doanh của các tăng sĩ chính thống, người dân VN trong và ngoài nước chẳng ai thấy tên Trí Quang tham dự. Cụ thể hơn nữa, trong đơn “XIN CỨU XÉT NHIỀU VIỆC”, đề ngày 25. 6. 92, của Hòa Thượng Huyền Quang gửi cho nhà cầm quyền CSVN, đã được phổ biến rộng rãi khắp trong nước và hải ngoại và đã gây nên một làn sóng dư luận chống đối CS mãnh liệt, ta cũng không thấy HT Huyền Quang nhắc nhở gì đến Trí Quang. Vậy Trí Quang đã và hiện đang làm gì ở VN?

Dư luận về Trí Quang ở hải ngoại cũng rất vụn vặt và mâu thuẫn. Người thì cho là Trí Quang đã lui về tu hành chân chính, không tranh đấu nữa, đã tịnh khẩu... Có người còn suy đoán có lẽ Trí Quang đã bị CS giam lỏng, quản chế...

Dĩ nhiên trong vụ này, tôi cũng như các bạn đều không ai biết gì chính xác về thân phận của Trí Quang trong thời gian sống dưới chế độ CS. Nhưng căn cứ trên một số tài liệu tiết lộ từ trong nước, chúng ta có thể tìm hiểu được phần nà
o. Vậy xin cống hiến bạn đọc để cùng nhau suy ngẫm.

Theo bài báo “CON ĐƯỜNG KHÚC KHỈU” của Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ cao cấp đặc trách Ban Tôn Giáo Vận đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, kể lại những thành tích của ông ta trong thời gian còn hoạt động bí mật thì sau ngày 30. 4. 75, Trí Quang đã bị CSVN liệt vào thành phần “CIA CHIẾN LƯỢC”.

Đỗ Trung Hiếu đã gia nhập đảng CSVN từ năm 1956, và là mộ cán bộ nằm vùng, hoạt động trong khối Phật Giáo ở miền Nam, đặc trách theo dõi các cuộc đấu tranh của Phật Giáo từ năm 1963. Vì thế Hiếu đã quen biết rất nhiều tăng sĩ thế lực thuộc cả hai phe Ấn Quang của Thích Trí Quang và Việt Nam Quốc Tự của HT Thích Tâm Châ
u. Đỗ Trung Hiếu kể, khi được lịnh vận động khối Phật Giáo để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), (tức tổ chức Phật Giáo Quốc Doanh), ông ta đã trình bày vai trò quan trọng không thể thiếu của Trí Quang với các thượng cấp chỉ huy trực tiếp làTrần Bạch Đằng và Xuân Thủy. Lúc bấy giờ Xuân Thủy đang giữ chức Bí Thư Trung Ương Đảng, kiêm trưởng ban Dân Vận Trung Ương, còn Trần Bạch Đằng làm Phó Trưởng Ban.

Khi nghe Đỗ Trung Hiếu nói về vai trò cần thiết của Trí Quang trong tổ chức GHPGVN, Trần Bạch Đằng đã gạt phắt đi, và không đồng ý cho Trí Quang tham dự vào tổ chức nà
y. Vì theo nhận xét của Trần Bạch Đằng thì Trí Quang thuộc loại “CIA CHIẾN LƯỢC”, không thể nào dùng được.

Ít lâu sau Nguyễn Văn Linh thay thế Xuân Thủy lên làm Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương, cũng hoàn toàn đồng ý với Trần Bạch Đằng, cho rằng Trí Quang là người không thể xài được.

Kết quả, ngày 4. 11. 1981, đại hội thành lập Giáo Hội Phật Giáo VN (quốc doanh) gồm có sự tham gia của phe 
n Quang, tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, đã bầu ra một Hội Đồng Trị Sự như sau: chủ tịch HT Thích Trí Thủ, phó chủ tịch HT Thích Trí Tịnh, còn HT Thích Đôn Hậu làm phó Pháp Chủ kiêm Giám Luật của Hội Đồng Chứng Minh...Như vậy, bạn đọc đã thấy rõ, trong suốt cuộc chiến Quốc - Cộng ở VN, dù cho Trí Quang đã lập nên được rất nhiều công trạng lớn với CSVN, nhưng chỉ vì một chút nghi vấn không biện minh được của cái đêm 22. 8. 63 oan nghiệt, cuộc đời của Trí Quang đã bị các đồng chí của ông ta đem chôn vùi âm thầm vào trong bóng tối.
Vậy cái đêm 22. 8. 63 là cái đêm gì?

Đêm 22. 8. 63 là đêm mà Công An, Cảnh Sát, và Mật Vụ nhà Ngô đã ập vào các chùa Xá Lợi, 
n Quang, Theraveda... để hốt hết các tăng ni, duy chỉ sót có một mình... Trí Quang!

Về sau bí mật mới được tiết lộ là: trong đêm ấy, bí thư Thích Nhật Thiện đã đem Trí Quang chạy trốn vào cơ quan USAID, rồi chuyển qua tòa đại sứ Mỹ, và được đại sứ Cabot Lodge che chở...

Chính vì thế sau ngày 30.4.75, CSBV đã bắt giam ngay Thích Nhật Thiện để điều tra, vì CS nghi Thích Nhật Thiện đã làm tay sai cho Mỹ.

Kể từ khi Thích Nhật Thiện bị bắt, Trí Quang không khỏi lo sợ cho thân phận mình, chẳng khác nào con cá nằm trên thớt, nên phải giả vờ suốt ngày ngồi Thiền, và tịnh khẩu...Nếu bạn đã đọc đoạn “HT Thích Tâm Châu nói về TT Trí Quang” ở trên rồi, hẳn bạn sẽ nhận ra đây chỉ là một phản ứng kiểu con Đà Điểu, theo thói quen của Trí Quang mỗi khi gặp cảnh nguy nan, sợ hãi mà thôi!... 
 
------------

Ðừng Mắc Mưu Bọn Việt Cộng Nằm Vùng



Ðừng Mắc Mưu Bọn Việt Cộng Nằm Vùng.

Cuộc chiến Việt Nam mặc dầu đã được kết thúc trên ba chục năm nay, nhưng nhiều người vẫn còn tự hỏi: “Quân đội của chúng ta hùng mạnh như vậy, tinh thần chiến đấu của quân đội chúng ta anh dũng như vậy, nhiều quân nhân còn xâm chữ “Sát Cộng” vào cánh tay, còn đồng bào ta thì sợ Việt Cộng như cùi, như hủi, bọn chúng tới đâu là đồng bào ta bỏ chạy tới đó, vậy mà tại sao chúng ta lại thua Cộng Sản?”

Đành rằng nguyên nhân gần và trực tiếp là vì chúng ta bị đồng minh (tức Hoa Kỳ) bỏ rơi, nhưng còn nguyên nhân sâu xa là gì? Đã có rất nhiều chính trị gia, chiến lược gia, sử gia (Việt Nam cũng như ngoại quốc) đã phân tích và đưa ra rất nhiều lý do - chủ quan cũng có, khách quan cũng có - nhưng chưa thấy tác giả nào nói tới hai lý do Đạo Đức và Luật Pháp.

Vì đạo đức, nên chúng ta đã không thể hành động như Cộng Sản, là: “thà giết lầm còn hơn tha lầm”. Bắt được những tên Cộng Sản hay những tên Việt Gian "Ăn Cơm Quốc Gia Thờ Ma Cộng Sản", chúng ta vẫn đối xử với chúng một cách nhân đạo.

Hẳn chúng ta còn nhớ, vào khoảng năm 1955-1956, một phong trào có tên là "Phong Trào Hòa Bình" đã được các tên như: Phạm Huy Thông, Lưu Văn Lang, Trần Kim Quan v.v…thành lập. Đây là một phong trào Thiên Cộng, hoạt động với mục đích hỗ trợ cho Việt Cộng nổi dậy. Nhưng khi bị phá vỡ (và bị bắt), thì chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chỉ tống xuất một vài tên chủ mưu qua cầu Hiền Lương (ra Bắc) mà thôi.

Đến đầu năm 1965, cũng có một phong trào khác mang tên tương tự là “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình" do những tên Việt Gian "Ăn Cơm Quốc Gia Thờ Ma Cộng Sản" thành lập. Như Thượng Tọa Thích Quảng Liên; Bác Sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến; Nhà Báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiếm; Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ; Bác Sĩ Lê Khắc Quyến.. v..v… Gần 30 thành viên của phong trào này đã bị bắt giữ, trong đó có Cao Minh Chiếm, Tôn Thất Dương Kỵ và Phạm Văn Huyến. Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thả dù bọn này ra bắc vĩ tuyến 17 tức bên kia cầu Hiền Lương cho Việt Cộng. Nhưng Thủ Tướng Phan Huy Quát vì lý do nhân đạo, sợ làm như vậy bọn chúng có thể gẫy chân, què tay vì bọn chúng đâu biết nhẩy dù, nên đã lấy cớ rằng nếu làm như vậy thì quốc tế sẽ chỉ trích, và chỉ đồng ý giải giao bọn chúng cho Việt Cộng bằng đường bộ qua cầu Hiền Lương.

Vì luật pháp, chúng ta cũng không thể cho chúng "mò tôm" (như bọn Cộng Sản đã làm đối với những Người Quốc Gia) mà chúng ta phải đưa chúng ra tòa để xét xử theo luật pháp. Nhiều khi chúng ta còn rất nhẹ tay với chúng. Dù có tội, thì cũng chỉ giam giữ ít lâu rồi lại thả ra. Trường hợp tử hình, thật là hiếm. Không những thế, nhiều khi còn để tình cảm lấn áp. Do đó, có những trường hợp kẻ bị bắt có thế lực hoặc có liên hệ với các ông lớn trong chính quyền VNCH được can thiệp và cho tại ngoại ngay từ lúc mới bị bắt, hoặc được cho biết trước để chạy trốn hay phi tang chứng cớ. Trường hợp điển hình là trường hợp của Trần Đình Ngọc, giáo sư trường Đại Học Khoa Học Saigon; vì có hoạt động cho Việt Cộng nên bị bắt. Ông Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng Trường Đại Học Khoa Học Saigon đã lấy tư cách và uy tín của mình để bảo lãnh cho ông Ngọc. Vì thế, ông Ngọc không những đã được tại ngoại mà cũng chẳng phải ra toà lãnh một án nào cả.

Trong Tết Mậu Thân 1968, đã không thiếu gì những tên Việt Cộng giết người một cách dã man, giết người một cách vô tội vạ, giết người hàng loạt, vậy mà đâu có ai đưa bọn chúng ra tòa? Còn chúng ta, nếu vì quá tức giận trước những hành động độc ác, dã man của bọn chúng, rồi tự ý giết một tên Việt Cộng nào đó, thì dù cho ta có đầy đủ lý do chính đáng đến đâu đi nữa, cũng vẫn bị kết tội là dã man, là vô nhân đạo! Nếu không bị đưa ra tòa, thì cũng bị nhiều người phê bình và thế giới nguyền rủa. Đó là trường hợp của Tướng Nguyễn Ngọc Loan, đã xử tử tên Việt Cộng Nguyễn Văn Lém (tự Bẩy Lớp), kẻ đã sát hại cả gia đình một vị Sĩ Quan Cảnh Sát vào Tết Mậu Thân 1968.

Ngày nay, ở hải ngoại cũng vậy. Những Người Chống Cộng luôn luôn bị một số người thích vịn vào lý do Đạo Đức, Văn Hóa (để) chỉ trích. Nếu chống cộng hăng say quá thì bị họ chỉ trích là quá khích. Nếu dùng từ ngữ mạnh mẽ quá, hay bình dân quá, thì sẽ bị họ phê bình/chỉ trích là ấu trĩ, là thiếu văn hóa, là phản tuyên truyền. Có khi còn bị họ nhục mạ là hạ cấp, là vô học này nọ.

Bọn Việt Cộng ăn gian nói dối cả trăm ngàn lần, nhưng dân chúng sống trong nước đâu ai dám nói gì!

Trái lại, ở hải ngoại, nếu có ai vì chống cộng mà nói sai một chút, nói quá lời một chút (mà đâu có phải nói họ, chỉ là nói bọn Việt Cộng hoặc bọn Việt Gian Cộng Sản) là sẽ bị họ chỉ trích/phê bình liền. Thậm chí sẽ còn bị họ mạ lỵ.

Bọn người này, không biết họ thuộc loại nào?

Có thể là bọn Việt Cộng nằm vùng, có thể là bọn Việt Gian Cộng Sản, cũng có thể chỉ vì cảm tình cá nhân. Nhưng nếu ta nói ra, chỉ mặt, thì họ lại la làng là bị chụp mũ này, mũ nọ. Có điều chắc chắn, là ta không bao giờ thấy họ viết một bài nào chống cộng, hoặc nếu có thì cũng chỉ hời hợt, vô thưởng, vô phạt để chứng tỏ ta đây cũng là "Người Chống Cộng"...

Còn khi viết những bài viết để chỉ trích những Người Chống Cộng thì họ phê bình/chỉ trích tới nơi, tới chốn!

Gọi ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam là Chính Quyền Việt Nam mà bị chỉ trích thì đã đành. Nhưng viết hai chữ Cộng Sản là CS hay Việt Cộng là VC mà cũng bị chỉ trích, hoặc khi ta gọi bọn bưng bô cho Việt Cộng (làm lợi cho Việt Cộng) là Việt Gian Cộng Sản mà cũng bị chỉ trích, thì thật là hết chỗ nói!

Trong khi đó, bọn Việt Cộng đang tung ra hải ngoại không biết là bao nhiêu là cán bộ đội lốt ca sĩ; "du sinh"; thầy tu; bất đồng chính kiến ..v.v…thì chẳng thấy những người này nói tới.

Chính vì vậy, mà ngày nay, "văn hóa phẩm" của Việt Cộng tha hồ bày bán trên thị trường hải ngoại, và bọn Việt Gian/bọn tay sai Cộng Sản tha hồ tung hoành để tổ chức đại nhạc hội gây qũy từ thiện, nhiều khi bọn chúng còn dám tổ chức triển lãm, hội thảo nữa, mà cũng chẳng mấy ai dám nói tới, nên càng khiến cho bọn chúng thêm lộng hành.

Trường hợp Cô Tím và "Căn Nhà May Mắn" là một thí dụ điển hình.

Cô được Hội Người Việt tại San Fernando Valley, California tổ chức buổi "Văn Nghệ Gây Quỹ" cho cô vào ngày 25 tháng 10 năm 2008. Cô Tím không những không chào cờ Việt Nam Cộng Hòa đã đành, cô còn ra lệnh cho ông Chủ Tịch Richard Mười Trương và những người trong ban tổ chức phải dẹp bỏ Cờ Càng Ba Sọc Đỏ đi, thì cô mới chịu "đăng đàn" nói chuyện. Vậy mà ông Chủ Tịch Mười Trương và những thành viên trong ban tổ chức cũng răm rắp nghe theo (?). Thà cứ như chùa Pháp Vân ở Canada trong buổi gây qũy cho cô Tím, chẳng cờ quạt gì cả còn hơn. Đằng này, ông Chủ Tịch Mười Trương cũng chào cờ Quốc Gia, cũng hát quốc ca VNCH, cũng mặc niệm, nhưng khi nhân vật chính là cô Tím, lên diễn đàn nói chuyện, thì ông lại nghe lệnh cô Tím để dẹp Cờ Vàng đi. Hành động này không khác gì mượn danh từ thiện để hạ nhục Cờ Quốc Gia VNCH! Ấy vậy mà vẫn còn có kẻ bênh vực cho cô Tím, vẫn đòi hỏi phải có bằng cớ rõ ràng, mới có thể kết tội cô là người của Việt Cộng. Chắc bọn Việt Gian Cộng Sản muốn chúng ta phải trưng ra thẻ đảng viên của cô, hay ít nhất cũng phải có giấy công tác của cô do Việt Cộng cấp (?).

Và gần đây, ngày 7/5/09, Tiêu Dao Bảo Cự, một tên bất đồng chính kiến cuội, đã được bọn Việt Cộng cho sang Hoa Kỳ và đã tới trường Đại Học Berkeley, thuyết trình về nhà thơ Hữu Loan, với bài thơ Đồi Tím Hoa Sim, nhưng chẳng thấy y nói gì tới bài thơ Đồi Tím Hoa Xim, mà chỉ thấy y khuyến dụ sinh viên về nước giúp ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam.

Ngày nay, bọn Việt Cộng đã biết rằng cái "chính nghĩa" của chúng (do sự tuyên truyền và bịp bợm mà có) không còn có thể che dấu ai được nữa, nhất là với đồng bào hải ngoại. Do đó, chúng đã tìm mọi cách để xâm nhập vào cộng đồng Người Việt Hải Ngoại, để tìm cách chia rẽ và phá hoại sự đoàn kết của chúng ta.

Chúng như con bạch tuộc!

Nếu con bạch tuộc có nhiều chân, thì bọn Việt Cộng lại có nhiều tiền. Bọn chúng sẵn sàng tung tiền ra để mua chuộc những thành phần lưu mamh, ham danh, hám lợi. Những thành phần ngu dốt, mê muội, tưởng chế độ Cộng Sản đã thay đổi, tưởng chúng thật sự muốn "hòa hợp - hoà giải" với Người Quốc Gia để xây dựng đất nước. Do đó, chúng ta thấy ở bất cứ nơi nào, hội đoàn nào, diễn đàn nào, cũng có đầy dẫy nhưng kẻ luôn luôn tìm cách phá thối, lũng loạn, để gây chia rẽ.

Tóm lại, đã gọi là chống cộng thì phải chống cộng tới nơi, tới chốn. Bởi vì bọn Việt Cộng là một bọn cướp vô học. Mà không những vô học, bọn chúng còn dã man, còn tàn bạo như dã thú. Chống chúng, ta không thể dùng những lý lẽ của Khổng Tử, những lời dạy của Đức Phật hay của Đức Giê-Su, mà ta phải dùng lời lẽ của những bà mẹ nông dân Việt Nam, hay ít nhất cũng phải là những lời lẽ của những người bình dân đang bị VC cướp của, cướp nhà hiện nay. Những ai không chống cộng hay không dám chống cộng vì còn muốn về Việt Nam làm ăn với Việt Cộng hay về Việt Nam để ăn chơi du hí, thì xin hãy im mồm lại, để người khác chống cộng. Đừng giở trò Đạo Đức Giả, đừng làm "Quân Tử Tàu", mà chỉ trích người khác.

Thật buồn, khi thấy trên các báo chí cũng như trên các diễn đàn, những bài chống cộng thì ít mà những bài chống nhau thì nhiều! Chúng ta phải coi chừng, đừng mắc mưu bọn Việt Cộng nằm vùng hoặc bọn Việt Gian Cộng Sản, rồi quên đâm thẳng mũi dùi vào bọn Việt Cộng, mà lại quay mũi dùi đâm vào anh em. Nếu không, chúng ta sẽ còn thua Việt Cộng dài dài.

Cổ nhân đã dạy :
"Đi với Bụt, mặc áo Cà Sa,
Đi với Ma, mặc Áo Giấy."

Lê Duy San.

---------------------



Lịch sử Đại học Huế VNCH chỉ trong vòng chưa đến 20 năm mà đã xẩy ra quá nhiều sự kiện, gắn liền với tình trạng an nguy đất nước thời ấy, đặc biệt là các biến động ở miền Trung, ở Huế, tuy là chốn Thần kinh cố đô, nhưng lại là nơi địa đầu giới tuyến Nam Bắc, ‘hàm chó vó ngựa, đứng mũi chịu sào’’: lúc thanh bình thì ca hát, lúc loạn lạc chạy cuốn cờ.
Viện Đại Học Huế được thành lập năm 1957 giữa thời bình, cho đến 1975 trong thời chiến các Viện Trưởng là: Cao văn Luận, Trần hữu Thế, Bùi tường Huân, Nguyễn thế Anh, Lê thanh Minh Châu. Trường Đại học Y khoa Huế được thành lập 2 năm sau đó và các Khoa Trưởng là Lê tấn Vĩnh, Lê khắc Quyến, Bùi duy Tâm, Lê bá Vận (Viện Đại Học Huế, kỷ niệm 40 năm, Dòng Việt, 1997, tr.22b).
Các Trường Đại học khác: Khoa học, Sư phạm, Văn khoa, Luật khoa, theo thời gian cũng thay đổi nhiều Khoa Trưởng, sự kế nhiệm tiến hành thuận lợi, suôn sẻ. Đối với Viện Đại học và nhất là đối với trường Đại học YK, mỗi lần thay đổi lãnh đạo lại không bình thường. Sự thành lập một trường ĐHYK ở Huế trước đó, khác hẳn với các phân khoa khác, cũng đã gặp nhiều khó khăn, chống đối tưởng chừng không thể vượt qua.
Ở miền Nam trước 1975, Đại Học có qui chế tự trị rất lớn, Chính Quyền mọi cấp rất tôn trọng, không chỉ thị, chỉ đạo, nghị quyết, pháp lệnh… chỉ can dự khi được yêu cầu. Mọi mục tiêu, đường lối chính sách… đều do giới Đại Học tự quyết định. Đại Học ‘phi chính trị’, mọi người đều hiểu như vậy, đó là nguyên tắc căn bản.
                                                                 ***
1) Bộ Giáo dục VNCH đã bổ nhiệm các vị sau đây nắm giữ chức vụ lãnh đạo trường ĐHYK Huế, Khoa Trưởng, Quyền Khoa trưởng, Xử lý thường vụ: Lê tấn Vĩnh, Lê khắc Quyến, Thân trọng An, Lê văn Bách, Bùi duy Tâm, Lê bá Vận.
Bác sĩ Lê tấn Vĩnh là Khoa Trưởng đầu tiên được chính thức bổ nhiệm giữ chức vụ Khoa Trưởng Đại học YKHuế. Ông là một nhà bác học tầm cỡ quốc tế, giáo sư Thạc sĩ Nhi Khoa và lúc đó đang làm việc tại Phòng nghiên cứu của Giáo sư Lelong tại Trường ĐHYK Paris, Pháp. BS LT Vĩnh vì bận các công trình nghiên cứu tại Pháp, mỗi năm chỉ có thể về Huế sáu tháng.
Sự kiện BS Lê tấn Vĩnh giữ chức vụ Khoa Trưởng ĐHYK Huế rõ ràng mang lại uy tín lớn lao cho Trường trong bước đầu vì Ông là giáo sư tại ĐHYK Paris đồng thời có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học lớn được biết tiếng trên bình diện quốc tế.
ĐHYK Huế xuất phát với những thế rất mạnh về lãnh đạo và giảng dạy:
Ban Giảng huấn chính thức của Trường gồm các Giáo sư, Bác sĩ Đức, Pháp, và Việt tốt nghiệp tại Pháp, Hà nội, Sài Gòn. Ban Giảng Huấn ủy nhiệm/thỉnh giảng gồm các Bác sĩ Hoa kỳ, phần lớn trong quân đội, các bác sĩ Pháp ở Sài Gòn và một số các bác sĩ ngoại quốc khác.
Về phần cận lâm sàng, Bệnh viện Trung Ương Huế, 1400 giường, rất lớn, có đầy đủ phương tiện xét nghiệm, X-Quang, dược liệu ngang hàng với các Bệnh viện lớn ở Hà nội (trước 1954) và Sài Gòn. Phái bộ Đức lại trang bị đầy đủ các phòng thí nghiệm tại trường cho sinh viên về các môn học khoa học cơ bản. Bệnh viện Toàn khoa Đà Nẵng lại là một bệnh viện thực hành rất tốt cho các sinh viên Y khoa năm cuối luân phiên thực tập nội trú.
Chuyển ngữ khởi giảng ở Trường là Anh, Pháp và Việt. Điều này cũng tương tự như ở trường ĐHYK Sài Gòn thời đó. Có lớp Đức ngữ buổi tối dành cho những Sinh viên ưa thích học thêm ngoại ngữ. Tuy nhiên các giáo sư Đức đều giảng dạy bằng Pháp hoặc Anh ngữ mà họ rất thông thạo. Sinh viên YK sĩ số năm đầu dưới 30, các năm sau tăng dần nhưng chậm, lúc nhiều lúc ít, lên đến 50-60 vào niên khóa 1974-75. Thầy đông, giỏi, phương tiện đầy đủ, sinh viên ưu tú số lượng không quá nhiều, chất lượng đào tạo rất tốt.
Giáo sư Lê tấn Vĩnh được bổ nhiệm vào gần cuối năm 1960 đến năm 1962 mới về Huế. Giữa năm 1961, Bác sĩ Lê khắc Quyến, Giám đốc Bệnh Viện Trung ương Huế đã được chính thức bổ nhiệm kiêm nhiệm Phụ tá Khoa Trưởng, và xử lý mọi việc ở Trường. GS Vĩnh về Huế nhận nhiệm sở, tiếp xúc với ban giảng huấn, lúc đấy chủ yếu các giáo sư Đức, Pháp, các bác sĩ Việt thì không nhiều lắm mãi cho đến ít năm sau, với tòa Viện Trưởng và có thể với các giới chức hành chánh, tôn giáo trong tỉnh…
BS Vĩnh người tầm thước, cỡ tuổi BS Quyến, nói giọng miền Nam, hòa nhã, cởi mở. Tôi nhận xét ông nét mặt hao hao bác Cách, nhân viên của Trường, nhưng đầy đặn, trí thức. Thời gian sau ông vào Sài Gòn, đến trường ĐHYK trong đó, gặp các giáo sư, lên bộ Giáo dục v.v… bàn việc trường.
Lúc BS Vĩnh trở lại Huế có tổ chức một buổi nói chuyện đề tài khoa học tại Trường, các giáo sư, bác sĩ tham dự đông đảo. Ông thuyết trình bằng tiếng Pháp, có chiếu tiêu bản. Đề tài là các tổn thương gan về phương diện giải phẫu bệnh ở trẻ em, gây ra do loại vi sinh ?? gì đó, một tên rất mới lạ, cũng khó nhớ mà bây giờ thì tôi quên khuấy. Đây là một đề tài ông đang dày công nghiên cứu. Qua cách ông trình bày, hấp dẫn nắm vững đề tài, tôi sinh lòng vô cùng ngưỡng mộ và thầm nghĩ Giáo sư Vĩnh thật xứng đáng là một nhà bác học làm rạng danh cho người Việt tại nước người. Trong lúc trao đổi chuyện trò tiếp theo, BS Vĩnh vui vẻ kể lại, có đôi chút hóm hỉnh, ông đã thuyết trình vừa qua, cũng đề tài này tại trường ĐHYK Sài Gòn và GS Trần quang Đệ đã kêu lên:”Quel est cet animal là ?” (Con vật đó là gì vậy cà?) Theo cung cách thành thật của người miền Nam, như GSTQĐệ chẳng hạn, tôi hiểu đó là một câu tỏ sự ngạc nhiên và khen ngợi.
BS TQ Đệ giáo sư tại ĐHYK Sài Gòn lúc đó, vừa là Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn, lớn lắm. Theo chỗ tôi nhận định, thì ông ta còn cao hơn mấy ông giáo sư Thạc sĩ YK khác ở Việt nam cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bề ngoài vóc dáng ông dềnh dàng cao lớn, khoảng 1m80, nghe nói có quốc tịch Pháp, luôn nói tiếng Pháp, chuyện bình thường lúc đó, giọng Paris, dáng dấp cử chỉ qúi phái. Các bác sĩ và sinh viên khi nói đến ông đều trầm trồ khen ngợi, thán phục vì ông là cựu nội trú bệnh viện tại Paris, khó lắm và danh giá lắm. Các giáo sư Phạm biểu Tâm (Sài Gòn), Tôn thất Tùng (Hà nội) v.v…đều là người Huế, trước cũng là cựu nội trú bệnh viện tại ĐHYK Hà nội. Theo hệ thống giáo dục y khoa Pháp, sinh viên YK sau khi thi đỗ Ngoại Trú, từ năm thứ tư trở lên có thể dự thi Nội trú bệnh viện, được trả lương, phụ tá trực tiếp cho các giáo sư và hướng dẫn sinh viên đi thực tập tại bệnh viện, đồng thời cũng là con đường chính qui để trở thành ban giảng huấn của trường. GS TQ Đệ vừa hữu danh hữu thực. Người ta khen ngợi ông động tác cầm dao kéo mổ xẻ rất đẹp và nhanh. Ông giảng bài đi lại trên bục, vừa nói vừa viết lên bảng, rất hấp dẫn lôi cuốn, giảng theo kinh nghiệm thực sự, không theo lý thuyết sách vở bài bản. Tôi cố ý so sánh giữa 2 ông bác sĩ Trần quang Đệ và Lê tấn Vĩnh cùng là Thạc sĩ YK một tại Sài Gòn, một tại Pháp, một tài hoa về lâm sàng, một sắc sảo ở Phòng nghiên cứu khoa học. Cả hai đều tuyệt vời khi thuyết trình, nói lên những kinh nghiệm thực sự tích lũy của mình, và họ thực sự hiểu biết, kính trọng nhau. Đó là 2 Giáo sư Việt nam, Thạc sĩ YK mà tôi rất ngưỡng mộ, và Trường ĐHYK Huế thật may mắn lớn lao có được GS Lê tấn Vĩnh một nhà bác học tài ba, là Khoa Trưởng đầu tiên của Trường.
Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, LM Cao văn Luận, trong “Bên Dòng Lịch Sử Việt Nam 1940-1975” có đoạn viết: “Ngày nay sở dĩ ít ai nhớ đến ông Vĩnh là vì ông làm Khoa Trưởng Y Khoa được vài tháng thì bị bịnh, phải trở sang Pháp để chữa trị. Thực ra bên trong còn nhiều uẩn khúc, mà tôi ngần ngại không muốn nói ra, sợ làm mất lòng một số người. Nhưng tôi thiết nghĩ cần phải nói lên, để lưu ý những người có trách nhiệm về sau. Quả thực ông Vĩnh bị bịnh, nhưng đó không phải là nguyên nhân chính buộc ông từ bỏ Đại Học Y Khoa Huế vĩnh viễn. Sau mấy tháng làm Khoa Trưởng, ông Vĩnh cố gắng hết sức, nhưng gặp phải sự đố kỵ của giới Y Khoa Sài Gòn, làm cho ông buồn bực, chán nản…”
Đúng là ngay từ đầu, trường ĐHYK Huế chưa thành hình đã gặp chống đối mạnh từ nhiều nơi. Tuy nhiên LM CV Luận đã không bỏ cuộc, kiên trì vận động tranh thủ được sự chấp thuận của Tổng Thống, sự bảo trợ của Đại học Freiburg Đức và GS Lê tấn Vĩnh, một nhà bác học nổi danh ở Paris nhận lời về làm Khoa Trưởng ĐHYK Huế. Các thành quả này có khi lại làm tăng thêm lòng đố kỵ, hiềm khích, ý muốn ông Vĩnh phải ra đi... Tôi rất ngưỡng mộ GS Lê tấn Vĩnh và tôi thông cảm với ông quyết định rời Huế: 1- Ông là một con người thuần túy khoa học, LM CV Luận viết: “…tính ông không muốn rơi vào những mưu mô, những vận động đen tối…” 2- Các nghiên cứu khoa học của ông ở Paris rất quan trọng, mà thời gian ông ở Huế không giúp gì. 3- Vào năm 1962 ĐHYK Huế rất vững mạnh, GS Vĩnh nghĩ mình có thể rút lui mà không làm hỏng đại cuộc. Ngay từ đầu, từ 1960 ông chỉ nắm chức danh Khoa Trưởng, nhằm đem lại uy tín cần thiết. Ông từ chức rời Huế lúc nào tôi cũng không hay, tôi chỉ biết vì thường ngày BS Lê khắc Quyến trên các giấy tờ, thông báo của Trường vẫn ký là “Phụ tá Khoa Trưởng”, nay ký là “Q. Khoa Trưởng” . 4- Ông Vĩnh bị bệnh là một điều thực sự, và tôi thấy rất quan trọng đối với ông lúc đó. Gặp ông tôi đã nhận xét các đầu ngón tay của ông đều bị phong lở lói nhiều ít, vì một nguyên nhân nào đó, bệnh ngoài da, vì dị ứng, vì nhiễm độc?? BSPhùng Hữu Chí có kể lại GS Vĩnh thình lình bị bất tỉnh té xuống đất khi chủ tọa kỳ thi tuyển Giảng nghiệm viên cho Trường (ĐSan YKH 2006, tr113). Chuyện nghiêm trọng, lúc đó tôi suy nghĩ có vẻ GS Vĩnh cũng không thể sống lâu ở Huế. Tuy nhiên về Pháp cho đến gần 30 năm sau ông mới từ trần ở tuổi thọ trên dưới 75.
Hội Ái hữu ĐHYK Huế Hải ngoại lúc GS Lê tấn Vinh từ trần có phúng gởi lời phân ưu sau:
Toàn thể hội viên Hội Ái Hữu Đại Học Y Khoa Huế          
Xin thành kính phân ưu Giáo sư LÊ TẤN VĨNH Cựu Khoa Trưởng Đầu Tiên Của ĐẠI HỌC Y KHOA HUẾ Đã thất lộc tại Paris Trong tháng 7 năm 1991
  Giáo sư Lê tấn Vĩnh là một bác sĩ y khoa lỗi lạc đã được vinh danh như là một trong những nhân
vật thông thái của Pháp quốc với rất nhiều công trình khảo cứu y học. Với Đại học Y Khoa Huế, Bác sĩ Lê Tấn Vĩnh đã bày tỏ lòng thiết tha đóng góp tài năng siêu việt của mình cho đất nước Việt Nam nói chung và cho Đại Học Y Khoa Huế nói riêng.
ĐẠI HỌC Y KHOA HUẾ XIN VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC
(Đặc San hội Ái hữu ĐHYK Huế, 1991, tr. 63)
Riêng tôi, đối với BS Lê tấn Vĩnh, ngoài sự ngưỡng mộ, tôi cảm nhận một sự thân tình, gần gũi, tôi nghĩ cũng do phong cách và cá tính của ông.
                                                   *****
2) Bác Sĩ Lê khắc Quyến kế nhiệm BS Vĩnh. Ông được bổ nhiệm Quyền Khoa Trưởng ĐHYK Huế vào cuối tháng 1 năm 1963, chức vụ mà ông giữ cho đến năm1966.Tuy nhiên trước đó ngay từ khi Trường đang thành hình, BS Quyến trong nội bộ đã được xem là người gầy dựng ra trường y khoa và điều hành mọi việc. Tính ông ưu ái lo lắng chu đáo cho nhân viên, sinh viên. Kể ra thì tôi là đồng môn với ông vì cùng là cựu sinh viên trường thuốc ở Hà nội, tuy nhiên BS Quyến vào trường Y Hà nội trước tôi đến cả một hai thập kỷ, như thế có thể làm thầy dạy của tôi. BS Lê khắc Quyến cùng BS Tô đình Cự, Phạm biểu Tâm, Tôn thất Tùng, Đặng văn Chung v.v… ở trường Đại học Y khoa Hà nội thời đó học cùng lớp hoặc chỉ cách nhau một hai năm. Hồi đó mà đậu cho được Tú Tài để vào Đại học rất gian nan và phải rất giỏi. BS Quyến thì phụ tá cho Giáo sư Henri Gaillard, Khoa Trưởng trường ĐHYKhoa, giáo sư vi trùng, ký sinh trùng học. Sau này ở Huế BS Quyến là trưởng khu kiêm trưởng khoa lây (truyền nhiễm) ở Trường và Bệnh viện.LKQ
Trong thời gian BS Quyến lãnh đạo trường YK Huế và ngay từ niên khóa đầu tiên, lớp YK1, 1961-62 sự giảng dạy ở Trường ở vào điểm cực thịnh nhờ các giáo sư, bác sĩ thuộc phái bộ ngoại quốc, nhất là phái bộ Đức hùng hậu, dù cho từ hè 1963 ở Huế có các biến động chính trị và chính BS Quyến lại có liên hệ ít nhiều.
BS Quyến cũng hăng hái với văn nghệ, thể thao. Bệnh viện TƯ Huế do ông làm Giám đốc thường bao giàn các gánh cải lương Sài Gòn ra Huế lưu diễn. Ông thành lập và làm ông bầu đội bóng tròn Bệnh viện Huế. Hồi đó tôi có nhà ở trong bệnh viện kề sát nhà mệ Bửu Tu, nhân viên phòng X- Quang và phụ tá cho BS Quyến về hoạt động thể thao. Các cầu thủ, nhân viên bệnh viện thường tụ họp trước sân và trong nhà mệ Tu và BS Quyến cũng năng đến. Mặc dầu được trang bị áo quần giày dép rất cẩn thận, các thành tích của đội bóng tròn bệnh viện hình như cũng khiêm tốn. Năm 62 BS Quyến lại thành lập và làm ông bầu đội bóng tròn bác sĩ bệnh viện. Các bác sĩ trẻ chủ nhật hàng tuần lái xe hơi cả đoàn, rất oai vệ, vào trường Đồng Khánh tập dượt ở sân cỏ sau. Hai cầu thủ nổi bật nhất là BS NK Nam Anh và NV Vĩnh. May mắn hoặc rủi thay chưa kịp ra quân thử sức thì chắc BS Quyến quá bận việc, không theo dõi kỹ, đội bóng tròn bác sĩ giải tán, quần áo giày tất biếu đội bóng bệnh viện. Thú thật các bác sĩ Nam Anh, Vĩnh và tôi tuy cũng thích bóng đá, ngay từ hồi nhỏ, nhưng đến nay lại thích chủ nhật ra sân tennis hơn. Các bác sĩ khác thì có những giải trí riêng.
BS Quyến tuy được mọi người kính nể nhưng ông lại dễ dàng, xuề xòa, tốt bụng, có khi tốt nhịn. Ở trong cương vị lãnh đạo Trường và Bệnh viện, đi chiếc Mercedes trắng bề thế, ông vẫn kéo đôi dép lẹt xẹt, áo sơ mi trắng bỏ ngoài quần, trời lạnh khoác thêm một áo dạ đen hở nút, nét mặt tươi cười. Hình ảnh rất quen thuộc, như những lúc ông đứng chụp ảnh chung với sinh viên Y khoa, Cán sự Y tế, Nữ hộ sinh, nhân viên. Đối với các bác sĩ trẻ tuổi đồng nghiệp dưới quyền lúc nào ông cũng xưng “toa, moa”, nhưng ai cũng thưa lại “anh, tôi” (‘toa moa’, tiếng Pháp dùng xưng hô thân mật, trong gia đình, quen thân).
Có lần trong buổi họp thứ bảy hàng tuần tại văn phòng giám đốc, BS Nam Anh phàn nàn về một điều gì đó, bác sĩ Nam Anh tính thường hùng hổ, bộc trực. BS Quyến có vẻ tức bực, bảo: “Mais c`est toi qui as demandé à venir!” (nhưng chính ‘toa’ đã xin về đây). BS Nam Anh trả lời liền: “C`est vrai, mais je n`ai pas demandé à rester”, (đúng, nhưng tôi không hề xin ở lại). BS Quyến nhượng bộ. Hòa khí trở lại, vui vẻ, thật ‘dĩ hòa vi quí’.
Bác sĩ Quyến tận tâm giúp đỡ mọi người, vì quyền lợi của bệnh viện, của Trường, nhưng tôi thấy trước hết, tính ông là vậy, tốt bụng, quan tâm đến người. Tôi chỉ kể ít trường hợp của tôi:
Vào năm 1962 Trường sắp mở thi tuyển giảng nghiệm viên cho tất cả, nhất là để các bác sĩ trong quân đội có thể được biệt phái về Trường nếu trúng tuyển. Tôi nói với BS Quyến tôi cũng sẽ thi. Ông ngạc nhiên bảo tôi: “Toa thi làm gì, để moa làm giấy chuyển toa qua Trường”. Tôi nói: “Anh cứ để tôi thi, tôi muốn qua Trường danh chính ngôn thuận”.
Qua năm 64, BS Quyến xin cho tôi và Bs Vũ công Thưởng đi Anh. Tôi ưu tiên đứng đầu danh sách; chờ cũng lâu, nhưng cuối cùng năm đó British Council chỉ cấp một học bổng, dành cho BS Thưởng, giải thich ngành chỉnh xương trong thời chiến quan trọng hơn ngành mắt.
Tiếp đến BS Quyến xin cho tôi đi Pháp. Giấy tờ nhanh chóng không ngờ, vé máy bay sắp có thì năm ấy Chính phủ VNCH xích mích với Pháp, để trả đũa, hủy bỏ tất cả các học bổng Pháp cấp. ‘Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết’.
BS Quyến cho biết phải có ECFMG thì qua Mỹ mới được cho vào phòng bệnh, khám bệnh nhân, học các khoa lâm sàng. Nói là làm, ông rủ rê ở đâu được môt Đại úy bác sĩ Mỹ đến dượt ECFMG cho các bác sĩ trẻ và hối thúc họ đi học. Tuần hai lần ông Đại úy Mỹ khoảng 8 giờ tối, lái xe Jeep đến Trường. Ông Cách đã mở sẵn cửa giảng đường A phía tay mặt, ngay cửa chính đi vào. Học viên khoảng sáu, bảy người, học đến 10 giờ về, có tài liệu học do ông Mỹ cấp. Sau đó nghĩ lại thật nguy hiểm, nhỡ Việt Cộng biết được tìm cách hạ sát ông bác sỹ Mỹ này thì vạ to. Được vài buổi số học viên giảm dần còn lại hai ba người. Chắc các bạn bỏ dở đang xin học bổng đi Đức. Ông bác sĩ Mỹ vẫn đến đều đặn, và cuối cùng chỉ còn lại mỗi mình tôi tha hồ độc quyền một thầy một trò. Như vậy được thêm gần một tháng thì bác sĩ Mỹ thuyên chuyển, đổi đi nơi khác. Tôi đang còn ham nhưng lớp học chấm dứt.
Đầu năm 1965 BS Quyến cho biết Mỹ có tổ chức thi ECFMG hàng năm tại VN. Ông chu đáo cấp cho tôi công vụ lệnh, cả vé máy bay khứ hồi lẫn công tác phí vào Sài Gòn thi, thi ở một sở Mỹ trên lầu rạp hát Nguyễn văn Hảo (?), có tất cả ba thí sinh.
Ít tháng sau, tôi đưa cho BS Quyến xem giấy thông báo tôi đậu ECFMG, cả phần chuyên môn lẫn Anh ngữ, ông cũng tức cười thích thú vì công lao ông tổ chức lớp học cũng có đôi chút kết quả và hăng hái bảo: “Để moa xin AMA Sài Gòn cho toa đi Mỹ “. Tuy nhiên AMA Sài Gòn từ chối lý do họ không có chương trình bảo trợ YK Huế, phải tự xin ở Mỹ. Mấy tháng sau BS Quyến lại bảo: “Có ông tướng quân y Humphrey sắp ra Huế, có ghé thăm Trường, để moa xin cho toa.”  ÔngTrung tướng Humphrey này rất được nổi danh ở Việt nam vì tại Sài Gòn, ông đã mặc áo giáp, dùng dao kéo dụng cụ mổ dài đặc biệt để mổ gắp một ngòi nổ ghim trong cơ thể một người lính Việt nam. Ca phẫu thành công, báo chí VN đưa tin, ca ngợi quá trời, vì chuyện đầy rủi ro nguy hiểm. Bác Sĩ Humphrey đến Huế, tôi không gặp, chỉ được BS Quyến sau đó cho biết BS Humphrey vui vẻ hứa lưu ý, “Sự bất quá tam” là thế. Lúc Tết Mậu Thân đầu năm 68, tôi ở Mỹ nghe tin Huế bị Việt Cộng đánh chiếm mà xiết bao lo lắng cho nước nhà, đại cuộc và vợ con đang ở tại Huế, trong khuôn viên bệnh viện. Đến gần 3 tuần sau Mỹ thông báo cho tôi gia đình vô sự.
BS Quyến trong cương vị lãnh đạo Trường đã rất tích cực, hăng hái tìm mọi cách sớm gửi các bác sĩ trẻ ra du học nước ngoài, phần đông đi Tây Đức với sự giúp đỡ của GS H. Krainick tại Trường; kết quả các năm 1965, 66, 67 nhiều bác sĩ đã trở về thay thế các giáo sư ngoại quốc mãn nhiệm kỳ giảng dạy, giảm dần lệ thuộc. Công lao này của BS Quyến đối với Trường rất lớn.
Được BS Quyến chỉ định đại diện Trường, qua năm 1966 tôi sang New Delhi, Ấn độ trong 2 tuần lễ dự hội nghị Thế giới kỳ 3 (?) về Giáo dục Y khoa. Trưởng đoàn VNCH là GS Phạm biểu Tâm, Khoa trưởng ĐHYK Sài Gòn, thành viên đoàn gồm GS Nguyễn Hữu, ĐHYK Sài Gòn và tôi (Lê bá Vận), ĐHYK Huế. Hôm lên máy bay đoàn lại có thêm BS Hoàng ngọc Minh đi tự túc. Sang đến New Delhi, GS PB Tâm, là khách mời của ban tổ chức và Chính phủ Ấn độ, ở khách sạn riêng. Ba người còn lại, GS Hữu rủ vào ở YMCA cho rẻ tiền, vì ở đến 2 tuần lễ, mà cũng là giữa trung tâm thành phố; cùng nhau đi phố, đi ăn cơm cà ri, đi hội nghị, đi thăm Taj Mahal. Có hôm cùng nhau đi shopping, tôi chỉ nhìn ngó, GS Hữu thì mở cuốn sổ tay ghi chi chit những điều ở nhà dặn mua, đồ trang sức, vải lụa, kỷ niệm… thấy ông chọn lựa rất kỹ, tôi không dè ông quá rành mua bán. Tôi chỉ chú ý thấy có sân đất, và khi vào phủ Tổng Thống thấy có sân cỏ, cũng tennis, lạ mắt. Không thấy có phái đoàn ĐHYK miền Bắc. 
Có hôm tôi đang đọc cuốn EMC (encyclopédie médico-chirurgicale) là bộ sách lớn gồm nhiều tập, các trang có thể tháo rời để cập nhật hàng năm, thì BS Quyến từ văn phòng Khoa Trưởng bước vào thư viện. Thấy tôi đang chăm chú đọc, ông cười hài lòng, ý ông muốn tất cả các bác sĩ trẻ đều năng vào thư viện. Cuốn EMC này có lần ông Séror, giáo sư Thạc sĩ Pháp về ngoại phẫu, đến làm việc mấy tháng ở Huế vào năm 1962, cùng lúc với GS Lê tấn Vĩnh, bảo với tôi, thời gian này đang làm việc với ông, được dùng để thi Thạc sĩ Y Khoa. Ông giải thích khi thi Thạc sĩ Y khoa, bốc thăm một đề tài, vào thư viện mở sách soạn, ai cũng dùng cuốn EMC, hôm sau trình bày trước hội đồng giám khảo và trả lời các câu hỏi. Chắc cũng để thử luôn tài sư phạm. Chữ nho “Thạc” có nghĩa là lớn, rộng. Thạc sĩ là người có học vấn và đạo đức uyên thâm. Theo nền giáo dục Pháp, chỉ riêng về Y khoa và Luật khoa thì học vị ‘Thạc sĩ’ cao hơn ‘Tiến sĩ’. Giáo sư Thạc sĩ sau một thời gian có thể được bổ nhiệm Giáo sư thực thụ.
 Ở nước ta thời còn ảnh hưởng Pháp có nhiều Thạc sĩ Y khoa, thi tại ĐHYK Paris, dành cho sự giảng dạy ở Đông Dương, Professeur Agrégé pour l’ Indochine mở ra cho các bác sĩ Pháp, Việt, Lào, Miên. Năm 1954 Trường YK Hà nội di cư vào Nam nhập chung với ĐHYK Sài Gòn; qua năm 1956 để tranh giành ảnh hưởng với Mỹ, Chính phủ Pháp chấp thuận một loạt các bác sĩ Việt nam trong ban giảng huấn ở Sài Gòn qua ĐHYK Paris, Pháp thi lấy bằng Thạc sĩ. Cho nên ở Sài Gòn lúc đó đột nhiên có nhiều giáo sư mới có học vị này, các sinh viên đều vui mừng cho Trường. Các năm sau lai rai có thêm. Riêng các giáo sư Trần quang Đệ, Phạm biểu Tâm, rồi sau đó Nguyễn Hữu, Đặng văn Chung, Vũ công Hòe (2 vị sau này ở lại Hà nội) thì đã là Thạc sĩ Y khoa trước 1954. Về Luật có giáo sư Vũ văn Mẫu, Thạc sĩ Luật Khoa.
Kể từ khi Bác sĩ Lê khắc Quyến được bổ nhiệm Q. Khoa Trưởng ĐHYK Huế vào đầu năm 1963,  các biến động Miền Trung đã manh nha rồi bộc phát mạnh, nhất là tại Huế, nơi có Viện Đại học, nhiều thầy, nhiều sinh viên. Sự điều hành Trường YK cũng như giảng dạy vẫn tốt, nhưng BS Quyến bị thiên hạ lôi cuốn vào làm chính trị, có tình nghi Phong trào Mặt trận Hòa Bình, có giam giữ, có Hội đồng nhân sĩ, hội đồng nhân dân cứu quốc, khối ‘Lập Trường’  v.v… gì đó, kẻ khen người chê, có khi nặng lời, làm chính trị là vậy, và cũng thật khó nhận định đúng, đánh giá tốt sự việc như hỏa mù ngay đang trong thời điểm ấy 1963-66. Tuy nhiên không bao giờ tôi nghe ông bàn luận chính trị ở nơi làm việc, tại Trường và Bệnh viện. Tinh thần Đại học là “phi chính trị”, trong bài viết này tôi nhằm kể lại chuyện xưa, những suy nghĩ, nhận xét về các khía cạnh và diễn biến trong việc điều hành trường của các người lãnh đạo; nếu có đề cập đến sự kiện chính trị cá nhân nhất là trong cương vị công bộc có liên quan đến trường, thì cũng tránh không bàn rộng, dành dư luận cho những diễn đàn khác.
BS Nguyễn văn Thuận, một học trò cũ YK1 của ông, ở Houston, Texas đã viết: “Bác sĩ Quyến đã đi vào chính trị như một cơn lốc, kéo theo những cơn bão. Và cuối cùng, từ 1966 ông bị cô lập ở Sài Gòn, và không còn một dịp nào trở lại Huế, trở lại với niềm ước mơ của đời thầy, được thấy những học trò của thầy thành đạt” (DÒNG VIỆT 1997,tr.89). Các cựu sinh viên YKH các khóa đầu tiên, được BS Quyến dạy dỗ đều hiểu rõ và cảm thông với Ông.
“Lỡ bước một phen, nghìn đời ân hận.
                          Quay đầu nghĩ lại, chín suối ngậm ngùi.”
Tôi thật nghĩ BS Quyến không nên làm chính trị. Tôi không phải là nhà tướng số gì, song nhìn ông ngồi trên ghế bành, tôi thấy có khi thật giống đức Phật Di Lặc, hiền hòa, mặt tròn, bụng mập, tươi cười. Ông nhân ái, không trừng phạt, không thủ đoạn, như thế khó làm chính trị??
Sự kiện BS Lê khắc Quyến phải rời Huế tôi nghĩ là một mất mát to lớn nhất cho Trường, hơn bất cứ ai trong chức vụ điều khiển ĐHYK Huế, tạo ra một khủng hoảng lãnh đạo kéo dài. Chúng ta mất một người lãnh đạo giàu kinh nghiệm quản trị, một người có tâm huyết với Trường, một giáo sư hàng đầu về khoa lây nhiễm rất quan trọng trong nội khoa, và đang trực tiếp hàng ngày giảng dạy sinh viên tại trường, bệnh viện. Sinh viên Tô đình Đài YK1, vào năm thứ ba đi thực tập ở khoa truyền nhiễm viết tưởng nhớ như sau: “…Cũng trong thời gian này, BS (BSQuyến) đã cho phép chúng tôi tập trung tại phòng khách tư gia của BS trong các buổi tối để được ăn bánh ngọt, uống nước trà, đồng thời được nghe BS giảng dạy… truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm về chuyên môn nhất là những trường hợp cấp cứu khi trực gác… (ĐSan YKH 2006, tr. 33).
 Rời Huế vào Sài Gòn, BS Quyến được mời làm Giám đốc Bệnh viện Sùng Chính, rất lớn của người Hoa, trên đường Trần hưng Đạo. Từ đó ông chỉ chăm lo công việc chuyên môn và quản trị. Năm 1973, tôi vào Sài Gòn, được bộ Y tế mời tham dự Hội thảo về Kế hoạch gia đình. Trong buổi tối chiêu đãi, BS Quyến và tôi ngồi cùng bàn, sát cạnh. Ông vẫn ‘toa, moa’ hỏi thăm chuyện trường và căn dặn nhiều điều trong giao tế để đoàn kết anh em trong Trường. Tôi luôn vâng dạ. Đó là lần cuối cùng tôi gặp ông. Tôi vẫn luôn nhớ ông đã làm ơn nhiều cho tôi và lại còn nhiều hơn cho nhiều người khác, cho mọi người.
 BS Quyến mất tại Sài Gòn, tại nhà riêng, năm1978, ngoài Huế ít người biết. “Vào tháng 7-1994, một buổi lễ tưởng niệm cố linh mục Cao văn Luận (1908-1986) và cố khoa trưởng Lê khắc Quyến (1915?-1978) đã được tổ chức tại chùa Vạn Phật Thành, Talmagage, California… Các cựu sinh viên YK Huế đã dự lễ tại chánh điện của chùa dưới sự chứng giám của tỳ kheo Hằng Trường là con của cố khoa trưởng Lê Khắc Quyến. Sau buổi lễ, mọi người đã được mời thụ trai, một bữa ăn chay đạm bạc nhưng đầy tình thân ái.” (ĐSNam, ĐSan YKH 2006, tr.138)

*****
3) Bác Sĩ Thân trọng An, được Bộ hợp thức hóa thay thế BS Quyến vào cuối tháng 10-1966 và giữ chức vụ cho đến cuối tháng 3-1967. BS An, có vợ đầm (?), học ở Pháp về, làm ở khoa ngoại. Trong thời gian ngắn ngủi ông làm Quyền Khoa Trưởng ĐHYK Huế, việc giảng dạy ở Trường không có thay đổi. Tuy nhiên vì có nhiều xung khắc, va chạm với các đồng nghiệp, nhất là đối với các bác sĩ cùng ở Pháp về, ông mất sự tín nhiệm và sau đó từ chức. Ông có vẻ cũng không có mối giao hảo tốt với các giáo sư, bác sĩ Đức ở trường. Bác sĩ An tính thân mật với sinh viên, chỉ bảo nhiều cho họ ở bệnh viện, được sinh viên ưa thích. Cách khoảng trên 10 năm trước, ông từ Pháp qua Canada trong một chuyến công tác phẫu thuật cho cư dân một hòn đảo nhỏ thuộc Pháp tại ngoài khơi, gần Canada. Nhân chuyến đi này của ông, các bác sĩ cựu sinh viên YKHuế, tại Montréal đã tổ chức buổi gặp mặt thật vui vẻ, cảm động.
                                                          *****
4) Bác sĩ Lê văn Bách lên thay thế, được Bộ Giáo Dục cử Xử lý thường vụ Khoa Trưởng kể từ đầu tháng 4-1967 và giữ chức đến cuối tháng 12-1967. BS Bách về Trường, được gửi đi tu nghiệp ở Đức rất sớm, lúc về làm ở khu Nội thương và sau đó giữ chức Trưởng khu Nội cho đến lúc ông về hưu, năm 1995. Các cựu sinh viên, đồng nghiệp đã viết về ông như sau:
“…Thầy Lê văn Bách đã đem hết công sức nuôi dưỡng, duy trì cho sự sống còn của trường Y khoa Huế. Trải qua bao nhiêu sóng gió, biến cố; từ các vụ tranh đấu năm 1964-66, từ biến cố Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa 1972, thầy vẫn luôn ở sát với Trường, với khu Nội thương thuộc trường Y khoa Huế… Thầy Lê văn Bách đã được mọi người, mọi giới biết tiếng về mẫu mực nghiêm chỉnh và giản dị của thầy. Là một người tận tâm với nghề nghiệp, một nhà mô phạm đầy lương tâm chức nghiệp… (NT Tinh Châu, YK2, Bản tin 6- 2002, Kỷ yếu YK Huế 2010).
“...Thầy Lê văn Bách vào làm cho Y Khoa Huế ngay từ lúc trường mới thành lập. Thầy là người rất có trách nhiệm, nguyên tắc và ghét tham quyền cố vị, vì vậy khi Thầy được bầu lên làm Quyền Khoa Trưởng, mặc dầu lúc đó Thầy được sự ủng hộ mạnh mẽ của các giáo sư người Đức và hầu hết nhân viên giảng huấn, hành chánh… và sinh viên, Thầy luôn đòi hỏi Viện phải thúc dục Bộ Giáo Dục bổ nhiệm một Khoa Trưởng thực thụ (Võ đăng Đài, Giáo sư YKH, ‘Tính sổ…’ ĐSan YKH 2006, tr.12).
“ Bác sĩ Lê văn Bách đã giữ vững Y Khoa Huế trong thời gian rất nhiễu nhương để trao lại cho tôi. Ông là một bậc thầy khả kính đối với sinh viên. Ông có một đời sống khắc khổ với ông và nghiêm nghị với mọi người. Ông là một người bảo thủ, nhưng không hề cản trở công cuộc cải cách táo bạo của tôi (Bùi duy Tâm, Giáo sư, Khoa trưởng ĐHYK Huế, Kỷ yếu YKH 2010).
Riêng tôi nhận thấy Bác sĩ Lê văn Bách sống thật đạm bạc. Ông luôn mặc áo sơ-mi trắng, tay dài và đi đôi dép xăng đan nâu, giản dị nhưng chỉnh tề. Suốt thời gian ở Huế, ông chỉ đi xe gắn máy, không hề sắm xe hơi như tất cả các bác sĩ khác.Ông cũng không đánh bài, văn nghệ, thể thao, đến Câu lạc bộ Huế…, ông quá bận bịu vì công việc giảng dạy và phòng mạch rất đông thân chủ. Tôi chỉ nghe ông đến chùa xem bệnh cho các thầy. Có vẻ ông không được sức khỏe lắm, phổi yếu (?), có lần phải nghỉ dưỡng bệnh hai ba tháng.
LVBThời gian BS Bách xử lý thường vụ Khoa Trưởng, qua các bài viết nói về BS Bách, nhất là các nhận xét của GS VĐ Đài ở trên, tôi nghĩ vào thời gian đó ban giảng huấn của Trường đầy đủ, BS Bách xử lý thường vụ trường rất tốt, được cả Trường tín nhiệm, chỉ có vẻ khủng hoảng bề ngoài (??) vì thiếu một Khoa Trưởng thực thụ, như trường hợp trước kia GS Lê tấn Vĩnh từ Pháp, đã được mời làm Khoa Trưởng đầu tiên dù chỉ nắm chức danh. GS Bùi duy Tâm cũng ca ngợi BS Lê văn Bách đã giữ vững Y khoa Huế trong thời gian rất nhiễu nhương…
Một thành quả to lớn của BS Bách trong thời gian ông tạm lãnh đạo Trường là đã tổ chức thành công khóa thi lâm sàng đầu tiên vào tháng 9-1967 và khóa đề biện luận án tiến sĩ y khoa quốc gia lần đầu tiên ngày 21 tháng11,1967 tại Trường. Bác sĩ Bách đã mời các giáo sư Trần Vỹ, Đặng văn Chiếu, Hoàng ngọc Minh đến từ ĐHYK Sài Gòn để cùng các giáo sư Horst. G. Krainig, R. Discher, J. J. Caron của ĐHYK Huế thành lập hội đồng cứu xét luận án. GS Trần Vỹ là chủ tịch hội đồng. Sự kiện các Giáo sư Trần Vỹ, Thạc sĩ Y khoa, cựu Tổng trưởng Y tế VNCH, Đặng văn Chiếu - Khoa trưởng ĐHYK Sài Gòn những năm về sau, và Hoàng ngọc Minh đã nhận lời mời ra tận Huế, một tỉnh địa đầu biên giới, nói lên sự quan tâm của họ về nền giáo dục y khoa và lòng yêu nước tha thiết thực sự. Tôi rất ngưỡng mộ.
BS Bách đã trao Trường lại cho GS BD Tâm ngày 26-12-1967. Nếu qua tháng sau, cận Tết, bộ Giáo dục vẫn chưa kịp bổ nhiệm Khoa trưởng thực thụ thì nhiều người nghĩ, sau biến cố Tết Mậu Thân, lúc tình hình tạm ổn định, BS Bách có thể đem Trường tạm vào Đà Nẵng, có sự giúp đỡ của BS Đinh văn Tùng, Giám đốc Bệnh viện Toàn khoa Đà Nẵng. Tổng y viện Duy Tân (Quân Y) Đà Nẵng, rất lớn cũng là nơi nương tựa tốt. Các bác sĩ ngoại quốc, nhất là Hoa kỳ, ở Đà Nẵng rất nhiều và nhiệt tâm. Ngoài ra các giáo sư Sài Gòn nếu bay ra Đà Nẵng  giảng dạy thì cũng thuận lợi; trong lúc quốc biến, tinh thần yêu nước, tương trợ, lá lành đùm lá rách lên rất cao, chẳng ai lại nhân cơ hội “em ngã chị bâng miệng cười”. Tạm dời Trường vào Đà Nẵng trong niên khóa đó là một điều vô cùng khả thi.
Từ năm 1966, BS ĐV Tùng trong ban giảng huấn ủy nhiệm của Trường, cùng các bác sĩ PV Hạnh (ngoại phẫu), VV Tùng (Nhi khoa) v.v…tại BV Đà Nẵng phụ trách giảng dạy sinh viên YKHuế năm thứ 6 thực tập nội trú tại  Đà Nẵng. BS Lê đình Thương YK1 viết hồi ký có đoạn: “Sáu năm Y khoa rồi cũng qua nhanh. Năm cuối (1966-67) còn đi thực tập nhiều nơi ngoài Bệnh viện Huế: về Phú Bài làm việc với nhóm quân y sĩ Mỹ, được ăn hotdog, uống coca cola, coi xiné trong lều. Vào Đà Nẵng được Giáo Sư Đinh văn Tùng dành cho một căn nhà nhỏ trong khuôn viên bệnh viện, còn biệt phái cho một chiếc xe hơi International Scout chạy trên bãi cát. Đây là chưa nói đến công lao dạy dỗ chí tình của bác sĩ Tùng, cho chúng tôi nhiều vốn liếng hữu ích trước ngày ra trường (LĐ Thương ‘Vài kỷ niệm…’, ĐSan YKH 2006, tr.19).
 BS Đinh văn Tùng lúc học ở ĐH Y Dược khoa Hà nội trước 1954 là Ngoại trú Bệnh viện, ở ĐHYK Sài Gòn là Nội trú Bệnh viện, đặc biệt xuất sắc. Cho nên ông rất ham thích giảng dạy, hết lòng với sinh viên. Sau ngày “Hè đỏ lửa Quảng Trị năm 1972, Đại học Huế di tản vào Đà Nẵng, BS ĐV Tùng đã giúp đỡ hết sức tận tình, không những trường Y khoa Huế mà còn các phân khoa khác” (Lê thanh Minh Châu, ’Diễn văn’, Đại hội YKH 2009). Giáo Sư Đinh văn Tùng mất tại Mỹ năm 2003, tất cả cựu sinh viên YK, học trò cũ của ông vô cùng thương tiếc, nhớ lại những gì qúi giá, bổ ích ông đã làm cho họ tại Đà Nẵng.
Dù sao nói cho cùng, nếu Trường vẫn cố ở lại Huế (như ý muốn của chính quyền) thì có thể phải kéo dài niên học qua mấy tháng hè. Các phân khoa khác trong Đại học Huế đều không di tản. Lúc biến cố Mậu Thân, Huế nhiều nơi thiệt hại nặng nhưng các cơ sở Đại Học chỉ hư hao nhẹ. Sự hồi phục nhanh chóng không ngờ. “Xa đáo sơn tiền tất hữu lộ”. Xe đến trước núi tất có đường đi. Ở đâu có ý muốn, có quyết tâm là có giải pháp.
Thời gian từ cuối 1972 cho đến cuối tháng 4-1975 BS Bách đảm nhiệm chức vụ phó Khoa Trưởng đặc trách lâm sàng. Ông được xem là cột trụ lớn vững chắc của Trường, cầm giữ mối rường, khuôn phép, rất uy tín và được kính nể như vị Trưởng Lão Chấp pháp của Trường. Ông ít trò chuyện, khi phát biểu thì chậm rãi, suy nghĩ, sâu sắc, thuyết phục. Trong năm 1974 ban giám đốc Trường đã lên Bến Ngự, thăm hỏi và giúp đỡ hoàn cảnh khó khăn của gia đình Bác sĩ Trần tiễn Ngạc, YK7, lại vào lao xá Thừa phủ viếng thăm, gởi quà Bác sĩ Phạm thị Xuân Quế, YK1 đang bị giam giữ; cả 2 bác sĩ Ngạc và X. Quế đều là giảng ngiệm viên của Trường. Hai chuyến thăm viếng đó đều do BS Bách đưa ý kiến và hoạch định tổ chức từ đầu đến cuối.
Bác sĩ Lê văn Bách mất tại tư gia ở Huế, ngày 2 tháng 4, 2002, thọ 72 tuổi (?). Tính ra ông đã phục vụ cho trường ĐHYK Huế thời gian lâu dài nhất, đào tạo rất nhiều thế hệ sinh viên. Dân chúng, các học trò cũ, các giới y tế, giáo dục đi đưa đám tang ông đông đảo. BS Nam YK5 viết: “Một buổi lễ tưởng niệm cho Thầy (Giáo Sư Lê văn Bách) đã được tổ chức tại Orange County 1-8 2002 với sự hiện diện của thầy Viện Trưởng Lê thanh Minh Châu, cựu Khoa Trưởng Bùi duy Tâm, các thầy Nguyễn văn Tự, Phùng hữu Chí, Lê bá Vận, Bùi minh Đức và nhiều các vị khác trong cộng đồng. Chị Tinh Châu đã đứng ra để lập quỹ học bổng mang tên thầy, quyên góp được một số tiền lớn gởi về cho gia đình thầy ở VN (Đồng sĩ Nam, Đặc san YKH, 2006, tr. 141)”.
                                                         *****
5) Bác sĩ Bùi duy Tâm, Giáo sư Trưởng khu Sinh hóa ĐHYK Sài Gòn được bộ Giáo dục bổ nhiệm Khoa trưởng ĐHYK Huế vào cuối tháng 12-1967. Lần đầu tiên ở Sài Gòn ra, từ sân bay về đến cổng trường, ông đã được một số đông sinh viên, những vài chục, biết tin chực sẵn đón tiếp, nói lên được sự tin tưởng và hân hoan của họ có được một Khoa trưởng mới cho Trường. Họ đã không nhầm lẫn vì chỉ một tháng sau đó xẩy ra thảm họa Tết Mậu Thân, Huế bị tàn phá nặng, Trường cũng thiệt người hao của, và vị tân khoa trưởng đã có quyết định tạm đem trường vào Sài Gòn học. Quyết định này đã mang lại thành công tốt đẹp, được sự đồng ý khen ngợi. Bác sĩ BùiBDTduy Tâm, nói giọng Bắc, là một người giao du rộng, có tài ăn nói, ứng đáp sắc bén, quyết định nhanh, ưa thích làm văn nghệ, làm văn hóa, phong thái lãng tử như ông tự nhận, bất cần đời, tuy nhiên ông là một người tốt đối với đồng nghiệp.
Thời kỳ ông làm Khoa trưởng ĐHYK Huế 1968-1972 có thể được chia ra 3:
a- Giai đoạn ngay trước biến cố Tết Mậu ThânTrường Y Giẫy Chết?. Tình hình Trường lúc đó như sau lấy ý kiến từ nhiều nơi:
a1 Từ một sinh viên khóa 1 “…Ngày 21 tháng 11, 1967, 4 luận án tiến-sĩ y-khoa quốc-gia đầu tiên được đệ trình. Giáo sư Trần Vỹ là chủ tịch hội đồng cứu xét luận án… Rượu champagne lần đầu được mở mừng cho sự trưởng thành trọn vẹn của trường… (Nguyễn văn Thuận, Khóa 1 y-khoa Huế, ‘Trường ĐHYK Huế’, Dòng Việt 1997, tr.90)”.
a2 Từ một sinh viên khóa 7 “…Giáo sư  Bùi duy Tâm…vào cuối năm 1967, khi tôi mới bước chân vào năm thứ nhất của trường. Khi được biết Thầy là một Bác Sỹ Y Khoa có luôn cả bằng Ph.D về Biochemistry ở Mỹ, chúng tôi rất ngưỡng mộ và mơ hồ nhìn thấy một hướng đi mới của Viện Đại Học Huế và của Trường YK. Chúng tôi sẵn sàng chờ đợi những thay đổi, những bổ sung nhân lực quan trọng trong ban giảng huấn cũng như sự cộng tác thân thiện và hữu ích của các giáo sư thuộc Đại Học YK Saigon… (Vĩnh Chánh YK7, ‘GS BDTâm…’, Đặc San YKH 2006, tr.41)”.
a3 Từ GS Võ đăng Đài “…Vì còn phải giảng dạy ở SàiGòn, Thầy Tâm chỉ có thể ra Huế mỗi tháng một lần nên Thầy đã cử hai phó Khoa trưởng... Phó Khoa trưởng Học vụ là Thầy Nguyễn văn Tự, Phó Khoa trưởng Hành Chánh là tôi… (Võ đăng Đài, ‘Tính sổ…’  ĐSan YKH 2006, tr. 6)”. GS Đài, Tiến sĩ khoa học (Sinh Hóa) tại Đức, Trưởng khu Sinh hóa YKHuế.
a4 Từ GS Bùi duy Tâm “…Bộ Giáo Dục Đại Học cử tôi ra Huế đảm trách trường Y Khoa trong tình trạng gần như tuyệt vọng (cuối năm 1967).
-Bác sĩ Lê khắc Quyến phải rời bỏ chức vụ vì lý do chính trị.
-Giáo sư Nguyễn ngọc Huy được cử ra thay thế; ông ra Huế, lắc đầu rồi trở về SàiGòn.
-Phái đoàn AMA (American Medical Association)… lại về hùa với Y Khoa Sài Gòn (mà đại diện là Giáo sư Phạm Biểu Tâm) để vận động đóng cửa trường Y Khoa Huế lấy cớ làm 2 trường Y Khoa giống nhau, không cần thiết, lại quá tốn kém.
-Họ cử tôi ra Huế, không trông mong nhiều vào phép lạ, nhưng có lẽ muốn làm một ân huệ cuối cùng trước khi quyết định dẹp bỏ 1 gánh nặng (Bùi duy Tâm, ‘Một Quãng Đời Qua’, Kỷ Yếu YKHuế 2009)”.
Theo BSTâm nhận định, cuối năm 1967, số phận trường ĐHYK Huế lúc đó gần như hoàn toàn bế tắc: “…Không có lãnh đạo như rắn mất đầu. Ban Giảng Huấn thiếu hụt trầm trọng. Chương trình giảng dạy không thống nhất: Tây, Ta, Đức, Mỹ tùy hứng” (Bùi duy Tâm ‘Trần minh Tùng’, Kỷ yếu YKH 2009). BS Tâm cũng phân loại, gọi ĐHYK Huế “từ lúc thành lập đến năm 1967 là  GIAI ĐOẠN BI THẢM (Bùi duy Tâm ‘Lịch sử YKĐH Huế’, Kỷ Yếu YKHuế 2009)”.

Các ý kiến trên về tình hình trường có khác nhau, nhưng ở Huế dưới thời các bác sĩ Thân trọng An, Lê văn Bách điều hành trường, không một ai có ý nghĩ hoặc hô hoán Trường đang gần đất xa trời, chờ đóng cửa; sự giảng dạy vẫn tốt, ban giảng huấn vẫn đầy đủ; các người gửi đi học nước ngoài lại về thêm, các giáo sư Đức như GS R. Discher tuy mãn nhiệm kỳ 4 năm giảng dạy, đã đưa gia đình về nước, nhưng nán ở thêm để chờ người thay thế (và do đó bị tai họa diệt thân lúc Tết Mậu Thân).
BS TVThuận (YK1) cho rằng Trường đã trưởng thành trọn vẹn. BS V. Chánh (YK7) nói lên đúng tâm tư của sinh viên mới vào trường. Họ sẵn sàng chờ đợi 1) những thay đổi, đúng vậy, ĐHYK Huế từ nay tổng hợp Đông Tây Y: --Y lý Đông phương (y học cổ truyền) được đưa vào  dạy ở ĐHYK Huế từ chương trình năm thứ nhất đến năm thứ 5 (với tổng số giờ về lý thuyết 195 giờ và nho văn 60 giờ, BDTâm ‘Một Quãng Đời Qua’ Kỷ yếu YKH 2009): “Lấy hơn bù kém, đem ngắn nuôi dài”; --lời thề Hippocrate khi ra trường đã được thay thế bằng lời thề Hải Thượng Lãn Ông; --lễ phục khi tuyên thệ là quốc phục. 2) những bổ sung nhân lực quan trọng trong ban giảng huấn: các cô Bội Tiên và Hạnh Phước đã chịu thôi làm ở phòng sinh hóa YK SàiGòn để về đất thần kinh (Đsan YKH 2006, tr. 42). 3) sự cộng tác thân thiện và hữu ích của các giáo sư thuộc YK SàiGòn. Điều này thì không tưởng. Các giáo sư uy tín ở ĐHYK Sài Gòn phần lớn rất thân thiện, nhưng không hữu ích, đơn giản họ không thể bỏ phòng mạch của họ để ra Huế dạy, đặc biệt vào bệnh viện ở lâu, giảng dạy lâm sàng, phẫu thuật, khác hẳn với các Thầy trường Luật, Văn khoa, Sư phạm, Khoa học…  Chúng ta phải hiểu điều đó, và thực tế. Từ trước đến nay và về sau đều như vậy, chẳng ai quan trọng ra dạy. Chúng ta vào hoặc gởi người vào thì họ sẵn sàng chỉ bảo. Sau này GS BDTâm sốt sắng nhận lời linh mục Bửu Dưỡng, Viện trưởng Viện Đại Học tư thục Minh Đức tại Sài Gòn mời làm Khoa trưởng trường ĐH Y Khoa Minh Đức, tổng hợp Đông Tây Y, cha vừa thành lập, cũng là GS Tâm nắm chắc dễ dàng có được các giáo sư Sài Gòn cộng tác, ngay tại Sài Gòn. Các giáo sư, bác sĩ ngọai quốc đến giúp chúng ta thì lại khác, họ đến Huế và ở luôn nhiều ngày, tháng, năm sống ngay tại Huế, giảng dạy.
Trường hợp GS Nguyễn ngọc Huy cũng tương tự, ông được cử ra Huế thay thế, nghe nói đâu gần giữa năm 1967, lắc đầu (?) rồi trở về Sài Gòn. Không vì trường Huế hấp hối, vô phương cứu chữa, nhiều người cố tình đổ tội như vậy, nhưng vì ông cũng khó bỏ công việc tư để ra Huế sáu tháng mỗi năm nếu không phải là sự việc tối ư cần thiết, như GS Lê tấn Vĩnh đã làm, hoặc còn gì đó nữa không liên can đến trường mạnh yếu, về hội nhập, về giao tế chẳng hạn... GS Huy người miền Nam (?) là Thạc sĩ Nội khoa. Tôi nghĩ nếu ông nhận lời thì ngoài chức vụ Khoa trưởng, ông lại càng quá tốt cho sự giảng dạy lâm sàng. Tôi biết rõ GSHuy, khi tôi còn là sinh viên nội trú ở bệnh viện Chợ Rẫy thì ông là bác sĩ trưởng phòng bệnh lý (chef de Clinique). Ông là người thầm lặng, tự trọng, ngay thẳng. Người ta nhờ ông ra Huế cứu trường YK ra khỏi hoàn cảnh tuyệt vọng, ông tin thật, nhận lời. Ra tận nơi, tiếp xúc với mọi người, ông thấy khác hẳn, ở trường sự giảng dạy bình thường, xử lý thường vụ trường tốt, sự bổ nhiệm một Khoa trưởng là chuyện phải có nhưng không phải là quá cấp bách, do đó ông trở lại Sài Gòn. Trong suốt 5 năm, từ đầu 1963 cho đến cuối 1967 ĐHYK Huế đã vẫn không có Khoa trưởng thực thụ và trước 1963 GS Lê tấn Vĩnh cũng chỉ về Huế ở lại mấy tháng, tuy nhiên ban giảng huấn là một thế mạnh.
Mặt khác, trường ĐHYK Huế thành lập và sinh tồn không hề phụ thuộc vào quyết định của cơ quan AMA, hoặc ĐHYK Sài Gòn do đó họ không có thẩm quyền gì trên ĐHYK Huế. Cũng không ai tin người Mỹ đang cố giúp Việt nam lại nhỏ nhen muốn cản trở, phá hoại Huế…
Bộ Giáo dục tất nhiên không có thẩm quyền tự ý đóng cửa ĐHYK Huế. Đây là một vấn đề chính trị, quốc sách mà chỉ Tổng Thống quyết định, cũng như trước kia Tổng Thống Ngô đình Diệm đã đích thân cho phép thành lập trường Y Khoa Huế. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, người miền Trung, cũng rất cương quyết, sau biến cố Tết Mậu Thân ra lệnh cho tất cả các cơ quan không được di chuyển rời Huế. ĐHYK Huế cũng chưa bao giờ là một gánh nặng cho bộ Giáo Dục, hoặc cho trường YK Sài Gòn; YKH chưa từng đòi hỏi họ cung cấp ban giảng huấn, phương tiện, mè nheo, yêu sách…GS Võ đăng Đài cho biết Thầy Tâm chỉ có thể ra Huế mỗi tháng một lần (ngày đi ngày về) nên đã cử 2 Phó Khoa trưởng để lo việc trường (trước kia không có Phó Khoa trưởng). Điều này cho thấy trường YKH vững vàng.
Trận đánh Tết Mậu Thân kéo dài gần suốt tháng 2 năm 1968 gây thiệt hại nặng cho Huế và nhân mạng cho trường YKH, các giáo sư Đức bị thảm sát thật bi thảm. Tuy nhiên mọi người, những ai có sống ở Huế, theo dõi YKH, hoặc gạt bỏ được các thành kiến, các chủ ý dụng tâm như của một số rất ít giáo sư ở Sài Gòn, đều không nghĩ lịch sử của Trường từ khi thành lập đến năm 1967 là “GIAI ĐOẠN BI THẢM”, ngược lại sự giảng dạy rất tốt.
b- Giai đoạn Trường di tản vào Sài GònTriệu Tử Long Phò Ấu Chúa.  Việt Cộng bất ngờ tràn chiếm và kiểm soát thành phố Huế vào khuya mồng một Tết Mậu Thân (1968). Trận đánh tái chiếm sau đó kéo dài gần một tháng. Huế bị tàn phá nặng. Sau khi tình hình tạm yên, BS Bùi duy Tâm, Tân Khoa trưởng từ Sài Gòn ra, đem Trường tạm vào Sài Gòn học. Quyết định này, được nhiều giới Giáo dục, Y tế, Y khoa, Quân y ở Sài Gòn bàn đến, và đối với BS Tâm dễ hiểu, dời trường vào Sài Gòn ông luôn ở cạnh, thường trực chăm lo. Lúc quốc biến kích thích lòng yêu nước, trường YK Huế chạy lánh nạn vào Sài Gòn được sự giúp đỡ tận tình của khắp mọi nơi: ĐHYK Sài Gòn, trường Quân Y, Tổng Y viện Cộng Hòa (Quân đội), Bệnh viện Grall (Pháp), Viện Pasteur v.v…. Tôi nghe thuật lại các sinh viên Huế học chung đã chứng tỏ họ cũng học giỏi như sinh viên Sài Gòn. Quyết định của GS Tân Khoa trưởng dời Trường vào Sài Gòn lúc đó thành công tốt đẹp, mọi người không tiếc lời khen ngợi, nhất là về phía các sinh viên, rất nhiều. Họ đã kể: “…Theo với sự dời Trường, Thầy đã cụ thể giúp đỡ rất nhiều chúng tôi bằng cách tìm phương tiện di chuyển vào Sài Gòn , và các nơi tạm trú cho sinh viên xa nhà…(Vĩnh Chánh YK7). Sinh viên Trần lương Hoa YK5 thì viết: “…Tôi không thể nào quên được những buổi trưa nắng chang chang… ngoài hành lang Thầy Tâm đi tới đi lui, xem chúng tôi học hành ra sao. Chờ các bác sĩ quân y dạy xong, Thầy chở họ về lại nhà. Cám ơn Thầy. Thầy không bỏ sinh viên Huế bơ vơ và đã tận tình giúp cho các sinh viên không mất năm học (Kỷ Yếu YKH 2009). BS Tâm cũng kể lại: “…Tôi vừa là Tổng Tư Lệnh chiến dịch vừa là tài xế đưa đón các giáo sư đến giảng đường. Tôi xung đột tứ phía, hung hãn như Triệu Tử Long một đao, một ngựa vùng vẫy trong gươm giáo trận mạc để cứu Ấu Chúa của tôi là Sinh viên Y Khoa Huế, rồi ôm ấp bảo vệ nuôi dưỡng Ấu Chúa để đem về trả lại cho đất Mẹ- xứ Thần Kinh. Mọi người tưởng tôi thần thế lắm, được Nhà Nước và Mỹ ủng hộ…Tôi rất thú vị được tưởng là CIA hay Việt Cộng. ”(BDTâm, ‘Một Quãng Đời Qua’, Kỷ Yếu YKH 2009). Đúng là BS Tâm đã làm hết sức mình không nề hà khó nhọc, trường Y Khoa có những năm sáu lớp từ YK1 đến YK5, YK6, biết bao nhiêu giờ học mỗi ngày, nếu các bác sĩ giáo sư y khoa Sài Gòn không dùng xe hơi riêng, mà họ đều có để di chuyển thì công việc đưa đón chờ đợi quá tất bật, hơn nữa còn kéo dài, lao tâm lao lực, khổ tứ.
BS Tâm cho biết ngoài việc học hành “…sinh viên được vui chơi trong những bữa tiệc (quán Ánh Hồng…), buổi trình diễn Nhạc Phạm Duy, với ca sĩ Thái Thanh, được Y Sĩ Đoàn tặng sách, được học bổng, được phát phần thưởng,… và được trở về cố đô, cố hương Huế trong niềm hân hoan của gia đình, của nhân dân Huế” (BD Tâm, Kỷ Yếu YKH 2009). Bác sĩ Vĩnh Chánh YK7 nhớ lại: “Các bạn tôi cũng không thể quên được lần Thầy (GS Tâm) tổ chức trại hè lịch sử tại đảo Phú quốc với sự cộng tác của Hải quân và ban ca Gió Khơi (mà thầy là trưởng đoàn), trước khi trường chính thức trở về Huế (ĐSan YKH 2006, tr.42). 
Mọi việc dù tốt đến bao nhiêu cũng có mặt trái. Trường YK Huế di tản vào Sài Gòn, ở lại trong gần hai niên khóa, một số bác sĩ, giáo sư trong ban giảng huấn theo Trường dọn vào Sài Gòn, sau đó ‘đất lành chim đậu, ở lâu mến cảnh’ cùng gia đình ở luôn trong đó, chỉ thỉnh thoảng ra Huế dạy; họ cũng ỷ y, theo ông Khoa Trưởng.
c-Giai đoạn Trường hồi cư về Huế đến mùa hè đỏ lửa 1972Trường Viện Phân Tranh.
Trường YKH trở về Huế trong niềm vui hồ hỡi toàn thắng, bắt đầu niên khóa học mới 1969/70, trường ốc đã sửa chữa hoàn bị, duy Bệnh viện Trung ương Huế bị phá sập phía trước, gần một nửa, khu hành chánh, các bệnh phòng nội và ngọai khoa, phòng mổ, thiệt hại nặng, còn chờ xây lại. Khoa Nhi, Sản, Dược, X-Quang, Xét nghiệm… còn nguyên vẹn. Bệnh viện Huế rất lớn rộng cho nên việc tạm dồn phòng ốc cũng dễ dàng. Việc học tập nói chung vẫn là tốt, do công lao của ban giảng huấn hợp sức cùng các bác sĩ ở bệnh viện Huế, Đà Nẵng. Một số bác sĩ ngoại quốc cũng đang còn ở Huế. Các ý kiến và sự việc trong giai đoạn này như sau:
**Học hành. Sinh viên khóa 9, vào trường niên khóa 1969/70 đã viết về một quãng đời cách đây hơn 40 năm: “…Qua năm thứ ba, chúng tôi bắt đầu đi thực tập ở bệnh viện… Khóa 9 là khóa có nhiều thầy mới, môn học lạ. Các thầy Mỹ đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người, có vị như mới về từ chiến trường với bốt-đờ-sô lấm bùn chiều hành quân, dạy 1, 2 bài rồi đi không bao giờ trở lại. Chúng tôi còn nhớ các  thầy Momin, Pickering, Candela, Dupuis, Maes… Khoảng thời gian này khóa 9 có khi còn được “lùa” đi học Đông Y. Vì không coi trọng môn học, khi đến giờ đông y chúng tôi thường “chạy trốn”. Đến nỗi thầy Tự phải đích thân bắt học trò vô lớp và than “thôi ta mệt lắm nờ, cứ như là cảnh sát” (thầy Đông Y: thầy Nguyễn văn Ba, Sài Gòn, và Trương Thìn, Quân Y)… Còn có GS Đào mộng Nam (Sài Gòn) dạy chuyên về chữ Hán, nhất là cách viết. Nếu có ai đó tình cờ vào giảng đường Y Khoa vào giờ Hán tự có thể tưởng lầm là mình đang ở trong trường Văn khoa! (Lê văn Hùng 49, YK9, ‘Khóa 9 – ĐHYKHuế’, Kỷ yếu YKH 2009). Các sinh viên đỗ Tú Tài ban C (Văn, Triết), nếu học Đông Y thì có nhiều thích hợp và thuận lợi thấy rõ. Thời xưa “tấn vi quan thoái vi sư”, bổ ra làm quan hoặc lui về dạy học, bốc thuốc.
**Sinh hoạt văn nghệ. Phong phú trong giai đoạn này. BS Vĩnh Chánh YK7 viết: “Ngoài cách hành xử cứng rắn nhưng đầy hiểu biết của một vị khoa trưởng, GS Bùi duy Tâm còn là một vị thầy có tâm hồn nghệ sĩ và rất tình cảm. Tôi còn nhớ những lần Thầy tổ chức cho cả trường đi chơi bằng thuyền từ dưới Đông Ba lên đến lăng Minh Mạng, hay những đêm nghe nhạc trên thuyền ở sông Hương, hoặc những đêm dạ vũ tại trường…, hoặc cùng chở nhau đến lăng Tự Đức rồi chạy qua lăng Khải Định, để cùng nhau hát hò với sự thành lập ngay tại chỗ ban nhạc “les tuberculeux’ gồm các anh… Cũng không quên được chuyến đi chơi hè năm 1971 tại Đà Lạt… chưa bao giờ có một Khoa Trưởng mà được các sinh viên quý mến và cảm thấy gần gũi như thế… Ngay khi Huế vừa tan mùi khói súng sau Tết 68, Thầy đã bay ra làm việc ở trường YK và mang theo một phái đoàn văn nghệ gồm có chị Nhã Ca và thân hữu Chu Mai để ủy lạo sinh viên chúng tôi (ĐSan YKH 2006, tr.41, 42).
**Điều hành trường.  “Mỗi lần tôi ra Huế (một tháng 2 lần) ngồi trên xe hơi từ Phú Bài về tới trường thì ông (GS Võ đăng Đài, Phó Khoa trưởng) đã báo cáo xong công việc. Ngồi trong văn phòng một buổi sáng, hai anh em tôi ký xong hết giấy tờrồi đi thăm các phòng sở, phòng thí nghiệm, chiều đi thăm gia đình ban Giảng huấn nhất là gia đình BS Đệ (bị mất tích) và các bác sĩ đi du học vắng nhà.Tối đi ăn nhậu và ngủ đò (tôi xin lỗi Giáo sư Đài đã phải đưa đón tôi đến bến đò với bộ mặt ngượng ngùng đau khổ vì cái phong thái lãng tử của tôi). Sáng hôm sau lên lớp giảng bài rồi đi thăm sinh viên thực tập tại bệnh viện. Đến trưa qua chợ Đông Ba, ngồi xổm xuống ăn tô bún bò rồi ra Phú Bài về Sài Gòn. Trên đường ra phi trường, Giáo sư Đài lại ghi chép chương trình phải làm cho kỳ tới… (BDTâm, ‘Lịch sử YKĐH Huế, Kỷ yếu YKH 2009).

**Bước thăng trầm. Uy tín của GSBDTâm lên rất cao khi trường từ Sài Gòn về lại Huế, nhưng sau đó bắt đầu xuất hiện những nứt rạn. Trước đây khi GS Tâm nhanh chóng nhận bổ nhiệm Khoa Trưởng YK Huế và cứ hàng tháng ra Huế một lần (?) ngắn ngủi, thì nhiều người đã nghĩ đây không phải là một ‘trường cửu chi kế’, hầu như một hạ sách phải chấp nhận, một tình trạng ‘bắt cóc bỏ dĩa’ không vững bền. Biến cố Mậu Thân, Trường dời vào Sài Gòn tạo cho ông có dịp thường xuyên ở cạnh, chu đáo lo cho Trường. Trường về lại Huế, ông không thể về theo. “Công thành thân thoái” mới là thức thời vụ.
 Với thời gian:1) ở Trường có những bất bình trong ban giảng huấn về tư tưởng, chính kiến, đường lối, tác phong... tăng dần khi mọi người lại biết Viện Đại học cũng bực mình.  2) “Sống trong chế độ mà tinh thần dân tộc không được chú ý, mang nặng đầu óc tự ti, sùng bái kỹ thuật nước ngoài, Ông Tâm vấp phải sự chống đối mãnh liệt nhất là trong các giáo sư, chính quyền lại chèn ép; cuối cùng đến năm 1972 Ông phải rời khỏi chức vụ khoa trưởng trường Y Khoa Huế (BDTâm, ‘Một Quãng Đời Qua’, Kỷ Yếu YKH 2009). 3) Đòi hỏi từ Viện Đại học Huế yêu cầu BS Tâm dành nhiều thời gian có mặt tại Huế, dự họp Hội đồng Viện, lo việc trường. GS Đài họp thay thế không dám tự quyết định, khác với thời BS Lê khắc Quyến giữ chức phụ tá khoa trưởng nhưng lại quyết đoán tất cả. GS Đài kể lại:”Trong những buổi họp Hội đồng Viện, Thầy (GS Nguyễn văn Hai) thường ít ủng hộ tôi” (Đsan YKH 2006, tr.12). Điều này cho thấy quan hệ Trường- Viện không tốt đẹp. Quan hệ này không thấy được cải tiến: mỗi lần BS Tâm ra Huế không có chương trình tiếp xúc Viện Đại Học, thăm các phân khoa trường bạn...  4) Trong ban giảng huấn Việt ở trường hiện có nhiều giáo sư, giảng sư có thể đảm nhiệm chức vụ Khoa Trưởng. 5) BS Tâm không thể dành cho Huế nhiều thời gian hơn, ông quá bận vì làm Khoa trưởng nhiều trường Y Khoa, với các chương trình Đông Tây Y tổng hợp lớn lao, lại cũng không có ý định  rút lui, từ chức ở Huế khiến Trường Y Khoa và Viện Đại Học Huế ở trong thế giằng co bế tắc trong một hai năm trời, cho đến khi xẩy ra vụ “Mùa hè đỏ lửa 1972” giải quyết được sự phân tranh âm ỉ,  khủng hoảng kéo dài này.
**Mùa hè đỏ lửa Quảng Trị, Đại lộ kinh hoàng, từ tháng tư tháng 5, 1972 Việt Cộng đánh chiếm Quảng Trị. Dân chúngt gồng gánh chạy bộ uà vào Huế. Trận đánh tái chiếm ác liệt kéo dài. Nhân dân Huế lo sợ thảm họa Tết Mậu Thân 1968 tái diễn, chạy loạn vào Đà Nẵng, Viện Đại học và trường YK cũng vậy. GS Lê thanh Minh Châu, cựu Viện trưởng ĐHHuế nhắc lại: “Sau Tết Mậu Thân lại đến mùa hè đỏ lửa Quảng Trị, đưa đến quyết định di tản Đại Học Huế vào Đà Nẵng. Chỉ trong vòng mấy ngày, Đại Học Huế phải di tản hồ sơ, thư viện, dụng cụ thí nghiệm, giáo sư, nhân viên, sinh viên vào Đà Nẵng… Sau khi trường hồi cư từ Đà Nẵng về lại Huế, thầy Lê bá Vận thay thầy Tâm trong chức vụ Khoa Trưởng …” (Lê thanh Minh Châu, ‘diễn văn’, Đại hội kỷ niệm 50 năm ngày thành lập ĐHYK Huế 1959/2009. Đặc san YKHuế 2009).
Biến cố ‘Mùa hè đỏ lửa 1972’ rõ ràng cho thấy cấp lãnh đạo cần thường trực bám sát nhiệm sở. Sau khi niên học mới 1972-73 bắt đầu, bộ Giáo Dục theo đề xuất của Viện ĐH Huế (?), ra quyết định BS BD Tâm  thôi giữ chức vụ Khoa Trưởng ĐHYK Huế. Vụ giải chức này, chưa từng xẩy ở Trường trước đó, đột ngột tuy không quá bất ngờ đã tức khắc gây ra một tình trạng căng thẳng như chưa bao giờ thấy ở trường ĐHYK Huế. Theo lẽ tự nhiên các Phó Khoa trưởng sẽ tạm thay thế, nhưng chuyện này không xẩy ra. Không người lãnh đạo Trường như quân mất tướng, gây nhiều hoang mang và phản ứng dữ dội?? Một nhóm đông sinh viên, có đến vài chục người đã giăng các biểu ngữ “phản đối sự giải nhiệm dành cho GS KHOA TRƯỞNG ĐHYK”, “toàn thể SVYK biết ơn thầy” (BD Tâm, ‘Một Quãng Đời Qua’, hình ảnh, Kỷ Yếu YKH 2009). Tình trạng có thể gây bạo động, lan tràn toàn trường và làm cho Viện Đại học lâm vào thế bất lợi, phải nhượng bộ hoặc còn gì nữa chưa biết. Đến đây đang cơn dầu sôi lửa bỏng, nhiều người khen ngợi sự khéo léo của Viện Đại Học đã hóa giải nhiều được tình thế: Viện thông cáo  GS Viện Trưởng sẽ đảm nhiệm tạm điều hành trường YK (chờ Trường cử Khoa Trưởng mới), đồng thời GS Võ đăng Đài được cử Phụ tá Viện trưởng. GS Đài sau này có tiết lộ: “Tôi thật cám ơn Thầy (GS Tâm) đã tin tưởng tôi …Tuy nhiên lời cám ơn này không xóa được cái ân hận mà tôi vẫn giữ mãi trong lòng về việc Thầy ra đi khỏi Huế. Một số áp lực ở Trường làm tôi không tìm mọi cách để giữ Thầy lại…” (VĐ Đài, ‘Tính sổ…’, ĐSan YKH 2006, tr 11).
** Hội đồng Khoa sau đó khi tình thế lắng dịu, họp cử Khoa trưởng, với sự hiện diện của GS Viện trưởng Lê thanh Minh Châu. Không có ứng cử viên, tôi (Lê bá Vận) đang tạm xử lý thường vụ trường, được đề cử. Cuộc bỏ phiếu kín tiến hành, kết quả toàn bộ phiếu chấp thuận, không có phiếu chống hoặc phiếu trắng. Rõ ràng các thành viên trong hội đồng Khoa, chung cuộc đã đồng lòng gạt bỏ các bất đồng, dị biệt vì tiền đồ của Trường, quyền lợi chung của sinh viên. Kết quả này đưa ra làm tan dịu tất cả mọi dị nghị, chống đối dù ở đâu, Huế hoặc Sài Gòn vì đó là ý nguyện của Trường, không do áp đặt. Căn cứ trên biên bản Hội đồng Khoa ĐHYK và đề nghị của Viện Đại Học Huế, một tân Khoa Trưởng cho trường ĐHYK Huế được bộ Giáo dục bổ nhiệm (với đầy đủ quyền hành và phụ cấp chức vụ). Một lễ nhậm chức đã được cử hành trọng thể.
LBVLúc đó tôi suy nghĩ có thể tôi được chọn làm Khoa trưởng vì những thuận lợi sau: --tôi thuộc về lớp kỳ cựu trong ban giảng huấn ; -- tôi có học ở Hoa Kỳ ; --lúc mùa hè đỏ lửa 1972, gia đình chạy vào Đà Nẵng nhưng tôi vẫn ở lại Huế làm việc tại bệnh viện, điều này cũng là một nguyên do sau này tôi được tưởng thưởng Y tế bội tinh VNCH; --tôi không dính dáng hoặc chịu ân huệ trong thời gian GS Tâm làm Khoa trưởng YKH; -- GS Lê văn Bách rất có uy tín và có công to với Trường lại có người nghi ngại có cảm tình với kháng chiến (?), tuy đó chỉ là lời đồn đãi. --những yếu tố khác (?) bên trong mà tôi biết rất ít, ngay cả không hề biết, tình hình lúc đó phức tạp, ngoài 2 GS LTM Châu và BD Tâm, những người biết sự việc nhiều nhất tôi nghĩ là các thầy VĐ Đài, LV Bách, NV Tự, TT Chiểu. Tôi cũng ngay tình thuật lại chuyện cũ, theo suy nghĩ chủ quan. Dù sao sự lựa chọn Khoa trưởng vừa qua là do Hội đồng Khoa quyết định thông qua bỏ phiếu kín.Tôi không hề mảy may vận động bầu cử, nếu có ai làm việc này cho tôi hoặc cho một ai khác thì tôi không được rõ. Mà hình như lúc đấy mọi người đều giữ yên lặng.
**Sống hải ngoại. GS Lê thanh Minh Châu, GS Bùi duy Tâm, các Thầy trong ban giảng huấn của Trường cũ và tôi vẫn sinh hoạt thân thiết với các anh chị cựu sinh viên Hội Ái Hữu ĐHYK Huế hải ngoại, rất đông. Đặc biệt đầu tháng 8, 2009 Hội Ái Hữu ĐHYK Huế tổ chức lễ Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường ĐHYK Huế 1959/2009 tại California, Hoa Kỳ, với sự tham dự đông đảo thầy trò cũ đến từ nhiều nơi trên thế giới, bao gồm những mấy chục anh chị cựu sinh viên từ Việt Nam . Trong dịp này GS BD Tâm đã đọc một bài diễn văn rất cảm động nói lên những cảm tình tha thiết của ông đối với Trường Huế, với sinh viên YK Huế mà ông xem như gia đình ruột thịt, yêu mến vô cùng và mãi mãi như trong một phần đời của ông (diễn văn). Tuy nhiên ít tháng sau đó, vào cuối năm 2009 ông nhận lời đón tiếp tại tư gia ở San Francisco  Hoa Kỳ, đồng chí Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN Trương vĩnh Trọng, Phó Thủ tướng CHXHCNVN và phái đoàn sang viếng thăm Hoa Kỳ. Sự việc có quá trình và mặc dầu ông đã giải thich nhưng việc làm này của ông gây bất bình lớn trong cộng đồng Việt nam tị nạn CS ở hải ngoại cũng như trong Hội Ái Hữu ĐHYK Huế hải ngoại khiến ông phải từ giã Hội, đoạn tình với các học trò cũ mà ông thương mến (1).
                                     “ Nhất thất túc thành  thiên cổ hận,
                                       Tái hồi đầu thị  bách niên thân.”
Cũng như năm xưa, năm 1972 cách 37 năm trước ông buộc lòng rời bỏ ĐHYK Huế với nhiều luyến tiếc, và viết: “ …Họ (các SV) là một phần đời tôi. Ngày rời trường, tôi cho họ tất cả số lương tôi vừa lãnh. Họ dùng tất cả số tiền đó để mua một bức tranh sơn mài rất qúy về “Cảnh Huế, người Huế” đề tặng tôi với dòng chữ: “NGƯỜI ĐẾN TRONG GIAN NGUY và RA ĐI KHI AN BÌNH” (BD Tâm 3/3/2003, Kỷ yếu YKH 2009).
 Với nhiều giới, đặc biệt sinh viên, BS Tâm là Khoa trưởng được nhớ đến của biến cố Tết Mậu Thân và Mùa hè đỏ lửa Quảng Trị có các tác dụng trái ngược trên sự nghiệp của ông và cũng của sự cố cuối 2009, song điều làm ông tự hào, mãn nguyện nhớ đời là như ông đã viết:
“…Nhưng mọi người (cả Việt Nam lẫn ngoại quốc) đã gắn liền tôi vào Y khoa Huế, dù ai muốn hay không muốn. Lịch sử Y Khoa Huế có chuyện dỉ chuyện gì, cũng chẳng ai để ý. Dư luận chỉ nhớ đến Y Khoa Huế qua huyền thoại “Tổng Hợp Đông Tây Y, lời tuyên thệ trước Hải Thượng Lãn Ông và các bộ Quốc Phục Việt Nam”. Gần hai chục năm sau, mọi người còn trân trọng nhắc nhở đến các việc làm của tôi ngày xưa ở Huế…
Thế mới biết:
                                   “Trăm năm bia đá thời mòn,
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ...”
(Bùi duy Tâm “Một Quãng Đời Qua”, Kỷ Yếu YKH 2009).
                                                               *****
6) Bác sĩ Lê bá Vận (là tôi) được bổ nhiệm Khoa trưởng ĐHYK Huế thay GS Bùi duy Tâm và giữ chức vụ từ cuối 1972 cho đến ngày 30/4/1975 thì miền Nam Việt Nam sụp đổ. Trước đó, từ khi Trường thành lập, tôi (BS Vận) chỉ giữ một vai trò thứ yếu ở Trường, khiêm nhường ít gây chú ý. Mới đây tôi được nhắc nhở đến cũng khá nhiều(!)  vì tôi hay viết lách (ví dụ viết bài này), phát biểu trên diễn đàn của hội Ái Hữu ĐHYK Huế hải ngoại. Trong tập Kỷ Yếu YK Huế ấn hành nhân lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập ĐHYK Huế 1959/2009, theo lời yêu cầu của Hội, như mọi người, tôi cũng viết tiểu sử của tôi như sau:     
Lê Bá Vận.  Vài dòng tiểu sử, tính đến ngày 30/4/1975.
Nguyên quán: Lệ thủy, Quảng Bình.
Sài Gòn: Tú Tài Pháp, Tú Tài Việt Nam.
Hà nội: Đại học Y Dược Khoa, Cựu Ngoại trú  Bệnh viện.
Sài Gòn: Đại học Y Khoa, Cựu Nội trú Bệnh viện.
Huế:  Y sĩ Trung úy trưng tập, Bệnh viện Quân Y Mang cá, Huế.
Huế: Từ 1959 đến 30/4/1975:
BVTU Huế: Y sĩ Quốc gia Chính ngạch, Bộ Y Tế.
ĐHYK Huế: Giảng nghiệm viên, Hậu Đại Học Hoa Kỳ, Giảng sư, Giáo sư, Khoa     Trưởng ĐHYK Huế.       
Y tế Bội tinh, Giáo dục bội tinh VNCH. 
Vợ: Võ thị Lệ Thủy, Luật sư Tòa Thượng thẩm Huế. Năm con (4 gái 1 trai).
Các đồng nghiệp cũng có viết về tôi:
Giáo sư Võ đăng Đài viết: “Ở Đại học Huế trước 75 cấp trên của tôi còn có hai người nữa là Thầy Lê văn Bách và Thầy Lê bá Vận… Trước khi làm Khoa trưởng, người ta nói Thầy (Lê bá Vận) có tính gàn gàn, nhưng sau khi lên làm Khoa trưởng, Thầy đã tỏ ra không gàn tí nào, trái lại rất uyển chuyển, khôn ngoan đối với Viện, đối với các Khoa khác cũng như đối với nội bộ của Trường. Thầy hành xử đúng là một người lãnh đạo. Sự khôn ngoan của Thầy càng thấy rõ sau 75 trong những buổi học tập chính trị. Thầy đã đưa ra những câu hỏi rất khó trả lời nhưng không ai bắt bẻ được. Sau 75 Thầy được giữ lại Trường chỉ vì Thầy có chuyên môn rất giỏi…” (VĐ Đài ‘Tính sổ…’, ĐSan YKH 2006 tr.12). Và ở một đoạn khác trước đó: “Có sự ủng hộ nhiệt tình của Viện và sự hợp tác tích cực của ban giảng huấn và sinh viên, Thầy Lê bá Vận vừa mới đưa Đại học Y Khoa lay tỉnh trở lại thì đầu năm 1975 Huế thất thủ, Viện Đại học Huế tan rã, một số giáo sư và sinh viên đi vào Sài Gòn” (tr. 8).
Giáo sư Bùi duy Tâm trong bài diễn văn đọc nhân lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường có đoạn nhắc lại chuyện xưa: “Thầy Lê bá Vận cùng Thầy Nguyễn văn Tự nhẹ nhàng lái con thuyền Y Khoa Huế đi hết con đường. Khi còn đi học ở Sài Gòn tôi vẫn thường sang gặp Thầy Lê bá Vận tại nhà trọ đường Cá Hấp để mượn sách vở học thi Nội trú. Thầy Vận là một đàn anh học giỏi mà tôi ngưỡng mộ. Chị Vận là một luật sư giỏi với dáng người thanh lịch mà tôi khó quên. Trong biến cố Mậu Thân, thầy Nguyễn văn Tự, bác Cách, anh Sơn là… ” (ĐSan YKH 2009). Tôi đọc những lời chân tình và xin cám ơn hai người bạn tốt là GS Đài và GS Tâm.
Các anh chị học trò cũ viết về tôi cũng nhiều, nói chung các anh chị ấy có rất nhiều huyền thoại để kể về các thầy cô cũ. Các câu chuyện về tôi được ghi lại rải rác ngắn gọn nhiều nơi, song cũng có những bài viết dài hai ba đến sáu bảy trang trong đó “mười phần bớt bảy còn ba, bớt hai còn một mới ra sự tình”. Tôi thật tình vui thích và cảm động được các anh chị học trò cũ viết về mình, gồm chính truyện, ngoại truyện và nhiều hư cấu. Hiện giờ tôi nghĩ các cựu sinh viên hiểu biết tôi  rõ vì tôi hay viết chuyện của mình, của các anh chị, các thầy, trường, bệnh viện, đất nước. Các anh chị cũng hiểu biết Thầy Bùi duy Tâm nhiều qua các bài viết, phát biểu, tranh luận…
Tân Khoa trưởng đã được chọn, tôi vẫn chưa có ý định chính xác về ban giám hiệu trường; như GS Tâm vì ở xa thì có 2 Phó Khoa trưởng! Ông Viện Trưởng Lê thanh Minh Châu hôm sau đó hớn hở báo tôi ông đã mời được Giáo Sư Lê văn Bách nhận lời giữ chức Phó Khoa Trưởng (đặc trách Lâm sàng). GS Bách đã nhận lời vui vẻ nhanh chóng khiến ông nhẹ nhõm, mừng quá đỗi. Tôi lại còn mừng rỡ hơn ông lúc đó. Ở Trường Y Khoa, GS Bách đặc biệt được kính trọng, được ông nhận lời tham dự việc trường, ban giám đốc Trường tăng uy tín rất nhiều. GS LT Minh Châu còn nhận xét ở những buổi họp ai cũng chờ nghe GS Bách cho ý kiến vì là mực thước, xác đáng, thuyết phục. Tôi cũng nhận thấy thế. Tiếp theo GS Châu lại khéo léo mời được Giáo Sư Nguyễn
văn Tự vẫn đảm nhiệm chức vụ Phó Khoa trưởng Học vụ mà ông có sẵn nhiều kinh nghiệm khiến  uy thế ban giám hiệu càng vững mạnh; lại tiếp xúc mời thêm các Thầy Lê bá Nhàn, Lê xuân Công, Tôn thất Chiểu giữ các chức vụ Phụ tá Khoa trưởng về Khoa học vụ, Sinh viên vụ, Đối ngoại vụ. Trong một bài viết tôi có nhận định: “Thầy LB Nhàn thì chân phương mộc mạc, Thầy LX Công nói năng mạnh mẽ, rõ ràng, thẳng thắn, Thầy TT Chiểu thì trình bày nhẹ nhàng, từ tốn, hiểu rõ thế cuộc, sự tình (ĐSan YKH 2006, tr.202)  Riêng tôi nghĩ tuy tôi là Khoa trưởng do Hội đồng Khoa bầu ra, nhưng có vẻ cũng có sự vận động sắp đặt của Viện để giúp đỡ Trường trong thời kỳ dao động chuyển tiếp, cẩn thận nắm chắc tình thế. Cùng lúc, các giáo sư, giảng sư khác được phân nhiệm giữ những chức vụ Trưởng khu chuyên môn của trường.
Cuộc khủng hoảng kéo dài giữa Viện Đại học Huế và Trường Y Khoa, do Viện khởi xuất, đến đây đã chấm dứt. Viện đã bỏ ra biết bao công sức, tâm huyết mà lẽ ra, theo nguyên tắc tự trị Đại học, Viện không thể và không nên xen lấn vào nội bộ Trường Y Khoa. Do đó Viện cũng đã nhẫn nhịn suốt một hai năm trời. Lúc tình hình căng thẳng cao độ sau ‘mùa hè đỏ lửa’, tôi nhận thấy ngoài bề mặt, tương quan lực lượng như sau: một bên là GS Tâm, một hai thầy (?) và một số đông sinh viên tích cực, bên kia là GS Viện trưởng Lê thanh Minh Châu, có GS Nguyễn văn Hai hỗ trợ (?). Ban giảng huấn của Trường phần lớn thì hình như bị trung lập hóa, có khi lại thiên về Viện, không bày tỏ thái độ, và đó là điều ước mong của Viện tìm đạt cho bằng được. Ngay sau khi Viện đã tranh thủ được quyết định của bộ Giáo dục ngưng chức GS Tâm, sự việc thắng bại cũng chưa ngã ngũ rõ rệt trong mấy hôm cho đến khi GS Viện trưởng tạm đảm nhiệm điều hành trường YK. Tôi suy đoán nước cờ cao này có thể do từ GS NV Hai (?). GS Đài có nhận xét: “Thầy Hai thuộc những nhân vật có cá tính loại A (personality A). Thầy nóng nảy, mưu lược nhưng không thâm độc và thù hận” (Đsan YKH, 2006, tr. 12). Tôi cũng nhận định: “Hồi đó Hội đồng Viện họp coi như hàng tuần, gồm Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng, các ông Khoa Trưởng và ông Tổng Thư ký Viện. Giáo sư Nguyễn văn Hai, Phó Viện trưởng, Khoa trưởng trường ĐHKH được xem là chiến lược gia của Viện, nắm vững tình hình, mưu thâm trí viễn. Giáo sư Nguyễn sĩ Hải , Khoa trưởng Luật Khoa phát biểu khôn ngoan, chín chắn, mực thước tương tự Giáo sư Lê văn Bách; các vị khác và tôi phát biểu ít hơn ngoại trừ việc liên quan đến Trường. Ông Viện Trưởng nói ít, cân nhắc lựa lời, nghe nhiều, tổng hợp và hành xử khôn khéo, mềm dẽo.
Từ sau ngày ban Giám hiệu Trường được thành hình, Viện Đại học Huế chấm dứt can thiệp ở Trường YK, tôn trọng sự tự trị Đại học, như từ hồi nào.
Tôi lên giữ chức vụ Khoa trưởng ĐHYK Huế thừa hưởng được những thành quả lớn lao của những vị tiền nhiệm từ lúc thành lập Trường vun xới, tích lũy, phát triển trong nhiều năm, giúp tôi có nhiều thuận lợi trong nhiệm vụ:
--Hiện nay Trường có nhiều vị có tước vị giáo sư, giảng sư khiến trường không lệ thuộc, bị động.
--Sinh viên ra trường đã nhiều khóa, nhiều bác sĩ ưu tú được giữ lại Trường, gửi du học.
--Thư viện, phòng ốc, tiện nghi giảng dạy tốt, bao gồm các bệnh viện thực hành.
--Huế yên, sau bài học Mậu Thân 68, Hè 72; các phần tử gộc nằm vùng không còn.
Các thuận lợi riêng gồm:
--Tôi là Khoa trưởng thực thụ đầu tiên sống ngay tại Huế, và đã được bầu lên.
--Ban giám hiệu hoàn chỉnh, uy tín, thầy trò ổn định.
--Quan hệ với Viện Đại học và các phân khoa bạn rất tốt.
--Quan hệ với cơ quan AMA thiết thực, họ đã ra Huế dự họp, tìm hiểu.
--Cánh bên hữu của trường được hoàn tất, nới rộng hơn ½ diện tích.
--Bệnh viện Huế cũng hoàn thành tái thiết, đồ sộ, hiện đại.
--Tại Đà Nẵng,Viện Đại học cộng đồng được thành lập với sự bảo trợ của viện ĐH Huế, lễ khai mạc trọng thể, đem lại lạc quan tin tưởng cho miền Trung, Vùng 1, địa đầu giới tuyến..
Hoài bão lớn nhất của tôi là thành lập tại trường Y khoa Huế các lớp/khóa đào tạo chuyên khoa sâu, hậu đại học ngắn hoặc dài hạn. Tôi trông đợi nhiều ở sự góp sức của thế hệ thứ 2 của ban giảng huấn, nghĩa là các bác sĩ cựu sinh viên của trường, được tuyển dụng và gởi đi học trong hoặc ngoài nước. Làm từ từ vì đây là vấn đề về lâu về dài, song “Miễn là cá ở dưới hồ, cỏn con cũng có ngày to kết sù. ” Và rồi điều gì cũng có thể làm được. Trường Y khoa được sự hậu thuẫn mạnh mẽ và hữu hiệu của Đại học Huế.
Nhiệm vụ trước mắt và những thành đạt là:
--Tiếng Việt là chuyển ngữ giảng dạy và đến một cách tự nhiên, không do quảng bá. Có cha Vilajos (Bồ đào nha), nhân viên ban giảng huấn, dạy Mô học, histology, song cũng nói tiếng Việt. Chỉ có BS Zerzavy thỉnh giảng, dạy sản và y khoa cộng đồng là người Mỹ. Ở Bệnh viện Đà Nẵng thì vẫn còn các bác sĩ ngoại quốc.
--Tôi quan niệm thư viện tốt là quan trọng hàng đầu cho giảng dạyhọc tậpnghiên cứu. Trường tìm cách xin hoặc đặt mua các sách báo Y khoa Anh Pháp, Mỹ. Có cô Hường, cử nhân, nhân viên trường, đang học lớp ‘quản thủ thư viện’ tại Sydney, Úc. Tôi có gặp, hỏi han việc học trong chuyến công tác ở Úc tháng 11, năm 1973, và trong dịp này lên tận Brisbane thăm thầy Lê xuân Công đang học về Niệu phẫu (Urology). Có giờ dạy Anh ngữ y khoa thêm cho sinh viên, để họ dễ dàng đọc sách báo tiếng Anh ở thư viện, tôi nhờ thầy Bùi minh Đức phụ trách.
--Về việc thực tập ở bệnh viện, tôi có ý định gởi ban giảng huấn của trường vào thêm ở Đà Nẵng, đồng thời thiết lập một ban giảng huấn ủy nhiệm/thỉnh giảng để các bác sĩ cộng tác với Trường được phong giảng viên, giảng sư, giáo sư… được trường Y khoa và Viện Đại học Huế công nhận.
--Tôi không có chủ trương mời các giáo sư ở Sài Gòn ra Huế giảng dạy, nhưng tôi vẫn khuyến khích các trưởng khu chuyên môn (Head of Department) mời các thầy ở Sài Gòn ra, giảng, thuyết trình đề tài để sinh viên học được từ nhiều nguồn. Trường cũng gởi các bác sĩ trẻ vào Sài Gòn học các khóa hậu đại học, một vài khóa có mở.
--Hội đồng giám khảo các kỳ thi Lâm sàng, đề biện luận án tốt nghiệp, thi tuyển giảng nghiệm viên đều do Trường đảm trách, không mời ngoài trường.
--Tôi tuyệt đối tin tưởng Giáo sư Lê văn Bách ở bệnh viện và Nguyễn văn Tự ở trường, sắp đặt kế hoạch, phân phối giảng dạy, lo liệu tất cả. Tôi nghĩ sự phân nhiệm này giúp 2 giáo sư Bách và Tự tập trung điều hành công việc trường hữu hiệu.
--Thời gian tôi làm Khoa trưởng không dài, chấm dứt khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, những thành tựu gì của tôi, nếu có cũng giới hạn.
Tân quan tân chế,”  tôi lên làm Khoa trưởng tức nhiên có những suy nghĩ riêng về chính sách, phương hướng, mục tiêu đào tạo của trường. Tôi tán đồng lời cố Giáo sư H. Krainick năm 1961 đã nói với các sinh viên: “Hãy cố gắng học hỏi và riêng tôi sẽ cố gắng tạo dựng cho các anh thành những mẫu người y sĩ đầy đủ khả năng không thua kém bất cứ một Đại học Y Khoa nào trên thế giới.” Và tôi nhận xét GS Krainick đã làm trọn lời hứa. Linh mục Viện trưởng ĐH Huế Cao văn Luận năm 1958, khi  vận động thành lập trường Y Khoa, đã lấy lý do chính dân ta quá thiếu bác sĩ chăm sóc bệnh tật cho người dân ; tỷ lệ 1 bác sĩ cho 30,000 dân ở Việt nam, trong khi ở Phi châu tỷ lệ này là 1/20,000. Các giới ở Sài Gòn chống đối cho rằng Việt nam không cần thiết phải có 2 trường Y Khoa (!) (cũng như không cần có 2 Đại Học ???), quá tốn kém, và nhất là thiếu thầy khiến chất lượng đào tạo kém. Hai điều này đã được giải quyết tốt đẹp sau khi ĐHYK Huế được ĐHYK Freiburg, Tây Đức bảo trợ và có sự cộng tác của Phái bộ viện trợ Kỹ thuật Pháp. Giới Y Khoa Sài Gòn không còn gì để nói.
Tôi lên làm Khoa trưởng muốn đem Trường trở về bản chất, sắc thái, tinh thần, mục tiêu yêu cầu đào tạo cũ, năm xưa khi trường thành lập. Tôi mong muốn có một trường Y khoa tốt, giảng dạy tốt, đào tạo các bác sĩ giỏi, tay nghề cao, có lương tâm nghề nhiệp.Tôi không quan niệm YKH kết hợp Đông Tây Y nhằm đào tạo các thầy thuốc chữa bệnh phối hợp thuốc tây, thuốc ta, tinh thông cả hai, có khi khách lấn chủ (trong lời thề  khi ra trường, các tân Bác sĩ hứa gắng sức làm phát triển các sắc thái đặc biệt của nền Y học Việt nam, BDTâm, Kỷ yếu YKH 2009). Tôi cũng không quan niệm phối hợp giảng dạy Đông Tây Y ở YKH có ý nghĩa làm văn hóa, giáo dục: nêu cao tinh thần dân tộc, tránh đầu óc tự ti sùng bái kỹ thuật nước ngoài, lại càng tuyệt đối không quan niệm trường ĐHYK Huế tổng hợp Đông Tây Y là do phải có sắc thái đặc biệt “bệnh quỷ thuốc tiên,” để không phải chỉ là phó bản của Y Khoa Sài Gòn, để có lý do tồn tại (một trong hai nguyên tắc GS BD Tâm đưa ra khi nhậm chức, nguyên tắc kia là phải mời các giáo sư, bác sĩ uy tín ở Sài Gòn giảng dạy; BDTâm, Kỷ Yếu YKH 2009) (2).
Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” đã chọn học Khoa học Tây Y, bao la bát ngát, thì chuyên tâm học cho đến nơi đến chốn. Để học Đông Y qui mô, cần đầu tư thời giờ và tạm gác bỏ suy luận logic Tây Y. Sự giảng dạy Đông Y được duy trì thu hẹp, thay vì nhằm sách lược nền tảng tổng hợp Đông Tây Y, nay chỉ đơn thuần nhằm giúp kiến thức làm quen, căn bản cho những ai muốn nghiên cứu thêm; lời thề Hải Thượng Lãn Ông thôi dùng, và không còn buộc dùng quốc phục trong lễ tuyên thệ đề biện luận án ra trường. Sau này các Thầy thì mặc lễ phục áo thụng Đại học, các sinh viên ra trường tôi thấy họ tự động mặc âu phục, nhiều người kiếm mượn được lễ phục Đại học (Trường, Viện ĐH chưa có đủ số lễ phục Đại học cho các tân Tiến sĩ), không thấy ai chọn vận quốc phục. Sau 1975 ở ĐHYK Huế, chỉ sinh viên năm thứ 5 mới học một số giờ lý thuyết đông y, được xem như một chuyên khoa lẻ, không bắt buộc. Tôi cũng nghe nói ở Hà nội có Viện Đông Y, bệnh viện y học cổ truyền riêng biệt… “Dưới triều Nguyễn, ở Huế có Thái Y Viện đào tạo các thầy thuốc cho triều đình và một số cho các tỉnh. Các y sinh được tuyển chọn hàng năm là những thầy lang xuất sắc hành nghề tự do trong các tỉnh. Trong Thái Y Viện, các thầy thuốc nam và thầy thuốc bắc, có phẩm hàm, làm việc bên nhau, mỗi người có một nhiệm vụ rõ ràng” (theo Tôn thất Hứa, ‘BVTU Huế’ ĐSan YKH 2009).
Trường Y Khoa Huế đã không còn hô hào tổng hợp Đông Tây Y, tiến tới một nền Quốc Y Việt Nam, và trường YK Sài Gòn cũng không có ý kiến trách cứ trường Huế đánh mất sắc thái đặc biệt để có lý do tồn tại, mà lại rất hòa thuận, nhã nhặn. Tôi lặng lẽ làm việc nên ngày nay cũng chẳng ai nhớ hoặc biết tôi có chủ trương gì trong việc này. Nếu trường YK Huế cần có một sắc thái đặc biệt, ví như có những mũi nhọn nghiên cứu về một lãnh vực Y khoa nào đó, tim, thận, bệnh nhiệt đới, nội tiết, di truyền v.v… thì đúng là một việc rất tốt, nhưng đó là chuyện còn lâu về sau, trước mắt không liên hệ đến điều kiện sống còn của Trường.
Hành chức Khoa trưởng ĐHYK Huế có những nét đặc biệt. Sau biến cố Tết Mậu Thân đầu năm 1968, tình trạng ở Huế bi đát và sau đó Giáo sư Bùi duy Tâm, Khoa trưởng đương nhiệm đã ra Huế đem Trường tạm vào Sài Gòn học. Tôi nghe kể lại, thấy cũng thật đúng với tình trạng ở Huế, tâm trạng và hoàn cảnh của tôi trong các tháng ba và tư năm 1975 khi tôi là Khoa trưởng. Lúc Mùa hè đỏ lửa Quảng trị 1972, Trường dọn cả trường vào Đà Nẵng, tôi chẳng tham dự vì không phải phần việc của tôi di tản trường, tôi vẫn ở Huế làm việc tại bệnh viện.
Năm 1975 thì lại khác, tôi đang là Khoa trưởng, trách nhiệm và danh dự chỉ mình tôi:
Tại Huế “…Tôi cùng tài xế đem xe di tản vào Đà Nẵng. Chỉ hôm sau đường bộ Huế-Đà Nẵng bị cắt đứt (ĐSan YKH 2006, tr 143). Tôi nghĩ tôi là người cuối cùng trong ban giảng huấn đã rời Huế. Tại Sài Gòn “…Hai là họp với ĐHYK Sài Gòn bàn chuyện sát nhập hoặc hỗ trợ. Ba là tôi đã hội kiến với Bác sĩ Hưỡn, Tổng trưởng Y Tế và là một bạn học cũ. BS Hưỡn đề nghị giao Bệnh viện Vì Dân cho tôi hoàn toàn, tôi có thể cho sinh viên đến thực tập…(Lê bá Vận “Một vài chuyện…”, ĐSan YKH 2006, tr.147). Lúc đó tôi nghĩ ban giảng huấn của Trường có mặt rất đầy đủ, gồm từ Huế vào và gồm nhiều vị đã ở sẵn Sài Gòn; bác sĩ Lê khắc Quyến cũng đang ở Sài Gòn, Giám đốc Bệnh viện Sùng Chính. Tuy nhiên thời cuộc biến đổi nhanh chóng đến ngày 30 tháng Tư.
Trách nhiệm của chức vụ Khoa trưởng ĐHYK thời đó rất lớn, nhất là trong những tình huống biến động 1968, 1972, 1975. “Đã bứng thì phải bưng, đã đẵn thì phải vác,” đã nhận trọng trách thì phải chu toàn nhiệm vụ; được phục vụ cho Trường, tôi xem là một vinh dự, tôi hăng say không nề hà khó nhọc, và tôi nghĩ đó chỉ là bổn phận phải làm. Cũng như bổn phận của một vị chỉ huy tại trận tiền.
Trường ĐHYK Huế được thành lập và trưởng thành trong biến loạn khói lửa chiến tranh cách đã trên dưới nửa thế kỷ. Các ngưởi đóng góp công sức sáng lập, điều hành trường cùng các nhân chứng trong thời gian ban đầu này đầy diễn biến, tình tiết đã đi vào lịch sử hào hùng và huyền thoại quý báu của Trường.

June 2010. Lê bá Vận.

(1)Thư ngỏ của BCHYKHHN. California 27/11 năm 2009. BS Lại đức Thuần, Chủ Tịch.
(2) Đặc san và Kỷ yếu YKH, 2009: CD và www.ykhoahuehaingoai.com
-------------------


Elje Vannema


Nhóm nạn nhân dân sự ngoại quốc tại Huế lớn thứ ba là những người Đức. Sau bốn ngày chiếm thành phố, vào ngày mồng 4 tháng hai, ba người bận ka ki tới căn phòng của bác sĩ Krainick. Các người Đức cư trú một trong năm căn nhà tầng nhiều phòng ở của Đại học.

Dẫn đầu nhóm ba người là Lê Huy Chước. Trước đây y là một công nhân bệnh viện, công việc của y nhiều lúc do các bác sĩ Đức tài trợ. Bác sĩ Krainick, Discher, Alterkoster và bà Krainick đã ở Việt Nam nhiều năm. Discher là người tới sau cùng, mới hơn một năm. Các y sĩ này nổi tiếng không những ở bệnh viện mà cả ở trường y, rất được dân và sinh viên mến chuộng.

Dù công việc đa đoan và dù có sự chống đối của các đồng nghiệp người Việt và công chức chính quyền. họ đã tân trang lại phòng khám bệnh cùi và xây thêm một bệnh viện tâm thần. ông giám đốc bệnh viện đã nói với họ: "Tại sao các anh giúp những người đó? Bọn chung toàn là cộng sản cả".

Đã tám năm họ hoạt động ở vùng quê và trong các làng xã chung quanh thành phố, thường với sự trợ tá của các sinh viên thực tập. Tên tuổi của họ được nhiều người biết, ngay cả những người theo Mặt trận. Năm 1962 vợ chồng bác sĩ Krainick lập một phòng chẩn miễn phí 30 giường ở Đan Nghi, một địa danh sâu trong vùng đất Cộng sản kiểm soát ... Họ tới đó đều đều mỗi cuối tuần để chẩn bệnh, thường bị cộng sản chặn đường nhưng không bao giờ bị bắt "bởi vì mấy ông ấy đi giúp người".

Cách đây hai tháng tôi cố thuyết phục bác sĩ Krainick rời Việt Nam. Có nhiều (dấu hiệu bất an cho các tỉnh phía bắc. Trên một chuyến ra Huế và Quảng Trị trong tháng mười một, ông mời tôi đi Đan Nghi để xem công việc phòng chẩn của ông. Khi rời Quảng Trị trở về tôi lọt vào một ồ phục kích. Một thiếu tá và một trung sĩ Mỹ từ hướng đối diện tới bị tử nạn. Như một phép lạ tôi và người y tá trợ lý may mắn thoát thân. Tôi báo cáo cho bác sĩ Krainick biết mình đã không tới Đan Nghi được, đồng thời cho ông hay có nhiều chuẩn bị ngấm ngầm cho một cuộc tấn công vào thành phố. Một lần nữa tôi thúc ông rời Huế.

Chúng tôi ở lại Quảng Trị hai ngày với các linh mục Việt Nam ở Nhà thờ chính toà. Các vị này cũng xác quyết như tôi. Nhờ có liên lạc mật thiết với dân chúng nên họ có nhiều nguồn tin và dữ kiện. Tôi gặp lại bác sĩ dân chót dịp cuối tháng mười một tại Đà Nẵng. Một dân nữa tôi nhắc nhở ông về cảm giác bất an sắp tới. Tôi bảo ông đã phục vụ khá đủ cho Việt Nam rồi, giờ nên hồi hương nghỉ ngơi. Nhưng ngoài tư cách là một thầy thuốc và giáo sư, ông còn là một con người rất mẫn cảm với một ý thức nghề nghiệp không ai sánh được. ông cho hay ông muốn đi nhưng bà vợ muốn ở lại. Đợi niên học hết thì hai ông bà sẽ trở về. Trước khi chia tay, tôi lặp lại quan điểm của tôi. Rồi chia tay. Tôi nhìn ông bước đi, cảm thấy bất lực vì không giúp được gì ông, nhưng nghĩ rằng đây là lần gặp cuối.

Ngày định mệnh ấy. mồng 5 tháng hai, du kích và nằm vùng địa phương của Mặt trận lại tới. Lần này với chiếc xe buýt nhỏ hiệu Volkswagen, có hai bộ đội miền Bắc đi cùng. Thoạt tiên họ hỏi tìm một giáo sư người Việt, người mà hôm trước đó đã bảo với họ rằng đây chẳng còn người ngoại quốc nào nữa. Đoạn tiến ngay lên lầu nơi các người Đức ở. Họ bắt ba bác sĩ đi, để bà Krainick ở lại, nhưng bà quyết theo chồng. Bác sĩ Discher và Alterkoster thì chẳng phản đối gì. Đám đông dân tụ lại trên sân cỏ bao quanh toà nhà. Họ biết rõ các "tù nhân", những người họ không những tìm tới ở bệnh viện, mà thỉnh thoảng vẫn đến thăm tại nhà. Họ biết cuộc đời của những người kia chỉ có phục vụ nhân loại một cách vô vị lợi, dạy học và cứu vớt người bệnh. Bao nhiêu năm liên tục những người đó dạy sinh viên y khoa, chạy tiền nuôi bệnh viện, xây bệnh xá tâm thần và phong cùi, mở bệnh xá thí ở vùng quê cách thành phố 30 dặm. Bác sĩ Krainick được mọi người yêu mến và kính phục. ông làm việc tại Việt Nam đã gần 10 năm. Giờ thì đám đông chỉ biết đứng đấy nhìn xem, bất lực. Mặt tái xanh khi thấy ba bác sĩ và bà Krainick bị dẫn đi. Rồi họ tan hàng trong im lặng. Ai nấy âm thầm rút vào nhà mình, âu lo không biết bao giờ tới phiên mình ...

Các bác sĩ đều là người công giáo và họ đã đến Việt Nam dưới thời ông Diệm. Sau khi ông Diệm bị lật đổ họ được khuyên nên rời xứ, nhưng lại dược mời sang ngay sau khi tình hình lắng dịu. Trong thời gian nổi dậy của các phật tử, bà Krainick có lần tham gia biểu tình chống lại các nhóm này và người ta nói là bà đã một hai lần tố giác cộng sản.

Bác sĩ Alterkoster quen biết ông trưởng ty cảnh sát và cũng đã tham gia biểu tình chống lại các cuộc xuống đường của các "Uỷ ban Tranh đấu Phật giáo". Bác sĩ Discher, người tới sau cùng, và bác sĩ Krainick là hai người chẳng bao giờ nói tới chuyện chính trị. Bác sĩ Discher vừa đưa vợ con về Đức và mới trở lại Việt Nam trong tháng giêng 1968. Khi tới Hàng không Việt Nam đặt vé đi ngày 24 tháng giêng, người ta khuyên ông chớ nên ra Huế, vì tình hình không ổn. Nhưng ông cho hay ông phải có mặt với sinh viên, cho dù lúc đó còn đang là mùa nghỉ hè. Hàng không Việt Nam không bay. ông liền sang đi nhờ máy bay Mỹ ra Huế.

Những người bị bắt được đưa về Chùa Từ Đàm phía nam thành phố. Ngày hôm sau chuyển tới Chùa Tăng Quang, rồi tới một chùa nhỏ có tên là Tường Vân. Chùa này được bao bọc bởi vài căn chòi, nằm cách Tăng Quang độ một dặm. Cha Châu, một linh mục công giáo làm việc với tôi hồi còn ở trường Pelletier, ngày mồng 6 tháng hai được yêu cầu chuẩn bị "thúc ăn Mỹ" cho các bác sĩ Đức. Ngày 7 tháng hai, một ký giả Đức theo chân các thành viên của Tổ chức Cứu trợ Công giáo (ICC) cố vào tìm các bác sĩ tại căn nhà họ ở trước đây, nhưng bị lính Mỹ cản. Ngay cả vào để dọn đồ cũng không được phép. Tôi bước tới cách nhà độ 15 mét thì một anh lính Mỹ chĩa súng vào người và nói "Ông kia... quay ra". Khi tôi bảo là tôi có quyền vào nhận diện dấu vết những gì đã xây ra, thì anh lính lầy súng bảo tôi đi. Họ bận rộn khiêng vác bàn ghế, tranh ảnh và một tấm gương ra khỏi nhà. Mãi tới đầu tháng tư thì Anh, một sinh viên y khoa, được một vị sư có tên là Châu báo cho biết có một ngôi mộ trong miếng đất nằm giữa cây cối, cách Chùa Tường Vân nửa dặm về phía nam. Anh và hai sinh viên nữa tới đó vào chập tối. Quá trễ nên ngày hôm sau quay lại, đào xác các thầy mình lên và chuyền về Sài gòn để hai bác sĩ người Pháp nhận diện. Vê sau bác sĩ Le Hir cho tôi hay có nhiều vết thương nơi đầu và mình, nhưng vết thương kết liễu là viên đạn xuyên qua đầu và ót Tháng năm, Toà đại sứ Đức ở Sài gòn chính thức thông báo là các công dân của họ bị hành quyết.

Họ bị giết tại chỗ hay ở Chùa rồi được chuyển ra đây? Tại sao mồ họ được tìm thấy quá trễ như thế ? Quân cộng hoà đã tái chiếm vùng này từ ngày 26 tháng hai. Thế tại sao không người lính nào để ý tới mộ này trong khi vị sư đã biết nó từ lâu ? Chùa Tường Vân có kiến trúc đẹp. Nó không bị phi sơ chút gì, trong khi ngôi chùa nhỏ hơn nơi giam giữ các bác sĩ và vùng chung quanh bị phá nát bới bom đạn suất trong thời gian từ 21 tới 26 tháng hai. Các nạn nhân ở đâu khi chiến trận xây ra ? Dân làng ở gần Chùa bảo không hay biết chi cả. Tôi hỏi bằng tiếng việt một ông 50 tuổi khi hai người đứng một mình trên đống gạch đổ nát của Chùa thì ông ta tỏ ra ngập ngừng rồi im ngay. Ông chỉ sang bà già nhà bên. Bà này, cô con gái đứng tuổi của bà và một cô gái trẻ với đám con trả lời rằng họ nằm miết dưới hầm nên không hay biết gì cả. Có lẽ họ không hay biết gì thật. Mà cũng có thể họ biết nhưng không muốn bị phiền lụy bởi chính quyền hoặc Mặt trận. Có thể, Mặt trận răn đe họ phải im. Sau này Sư Châu kể rằng một trong các chú tiểu của ông thấy người ta đào hố và nghe thấy tiếng súng. Ngày hôm sau chú đi ra xem. Quá sợ nên mãi mấy tuần sau mới dám hé môi.

Bị bắn sát từ sau gáy và đầu nên xương mặt họ một phần bị bung ra - đó là số phận dành cho họ. Ngày 13 tháng tư hài cốt của họ từ biệt Việt Nam. Linh cửu được đưa ra phi trường trên chiếc xe do bốn ngựa kéo. Theo sau là 250 sinh viên y khoa Huế và Sài gòn, đội đưa tang và đội quân danh dự của Quân lực việt Nam Cộng Hoà. Sinh viên cầm biểu ngữ nói lên lòng biết ơn công lao các bác sĩ. Một biểu ngữ ghi: "Đại học Huế không quên các giáo sư người Đức" . Trước khi linh cửu được đưa lên máy ban, nghi lễ tiễn biệt diễn ra thật cảm động. ông Trân, Thứ trưởng Bộ giáo dục kỹ thuật và cao đẳng phát biểu: "Bao nhiêu năm tôi đã tham dự nhiều buổi lễ ghi nhớ các anh hùng hy sinh cho Tổ quốc, nhưng chưa bao giờ cảm động như hôm nay khi tiễn biệt những người dân sự này đã chết cho lý tưởng cao cả vì tha nhân và nhân loại".
 
Lịch sử còn đó… (1)
Ngày: 16-06-2006
Đề tài: Lịch Sử

“L’histoire est vraie, mais la vérité est partielle: Nous pouvons savoir des choses sur le passé humain, nous ne pouvons savoir le tout de ce passé”
H. Marrou, sử gia.

Nguyễn văn Lục

------------------------------------------


Ngày mồng 8 tháng 5, năm 1963. Ngày đáng ghi nhớ. Ngày mở đầu cho biến cố Phật Giáo miền Trung 1963. Trong ngày đó, vào khoảng 10 giờ 30 tối, có cả thảy 8 em vô tội đã bị thảm sát tại Đài phát thanh Huế. Xin được nhắc lại một lần tên các em. Đó là Nguyễn Thị Ngọc Lan, 12 tuổi, 1951. Huỳnh Tôn Nữ Tuyết Hoa, 12 tuổi, 1951. Nguyễn Thị Phúc 15 tuổi, 1943. Lê Thị Kim Khanh 17 tuổi, 1948. Trần Thị Phước Tự, 17 tuổi, 1946. Nguyễn Thị Yến, 20 tuổi, 1943. Nguyễn Văn Đại 13 tuổi, 1950 và Đặng Văn Công 13 tuổi, 1950.

 
Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu (11/6/1963)
Nguồn: lib.berkeley.edu

Sau cuộc thảm sát Đài phát thanh Huế tiếp theo cuộc tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức, 66 tuổi ngày 11/6/1963 tại ngã tư Phan Đình Phùng, Lê Văn Duyệt Sàigòn.

Hồi chuông báo tử đã dóng lên cho một chế độ.

Dư luận thời đó và ngay cả hiện nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng vụ thảm sát tại đài phát thanh Huế là do xe tăng của Thiếu Tá Đặng Sĩ đã cán chết các em. Và người trực tiếp trách nhiệm vụ thảm sát này không ai khác hơn là Đặng Sỹ? Và người đứng đằng sau có thể là ông Ngô Đình Cẩn hoặc Tổng giám mục (TGM) Ngô Đình Thục?

Riêng ông Ngô đình Cẩn, trước khi chết có tâm sự với luật sư Võ Văn Quan là ông không có ra lệnh cho Đặng Sỹ giết trẻ em trước đài phát thanh? Thế thì còn lại TGM Ngô Đình Thục? Theo Linh mục (LM) Cao Văn Luận, trước khi lm Luận lánh mặt ra ngoại quốc có đến từ giã TGM Thục và TGM Thục tỏ ra chẳng có ưa gì về vụ biến động Phật giáo cả.

Cần có một câu trả lời cho cái chết của các trẻ em vô tội chết không toàn thây trước cửa Đài phát thanh Huế? Và nếu người ta thật sự thương xót các em thì cho đến nay ít ra cũng có cái gì đó, một cái miếu, cái cột, cái bảng, một hòn đá cũng được, hay một miếng gỗ. Ai dám nghĩ đến cái điều tưởng như tầm thường ấy?

Viết bài này, tôi cũng không quên được chính mình cũng là thế hệ thanh niên trí thức ở thời kỳ đó. Tôi vẫn nghĩ rằng thắc mắc của tôi là chính đáng.

Bài viết có hai phần, phần đầu, chọn lựa dựa trên các lời viết của các nhân chứng hàng đầu trong biến cố đài phát thanh Huế. Phần hai, duyệt xét lại vụ án thiếu tá Đặng Sỹ để xem ở thời điểm ấy, vụ án đã được xét xử như thế nào?

1. Trích dẫn về những chứng từ trong đêm 08 tháng 05 năm 1963, tại đài phát thanh Huế.

Những chứng từ sau đây của các nhân chứng hầu hết nhìn tận mắt cho thấy một sự việc đã được nhìn, được thấy như thế nào? Người viết ghi những chữ, những câu viết nghiêng để độc giả dễ theo dõi sự dị biệt giữa các nhân chứng.

a. Chứng từ của ông Nguyễn Khắc Từ, Huynh trưởng gia đình Phật Tử, người đã có mặt từ đầu đến cuối bên cạnh Thượng Tọa Trí Quang. Ông viết “Một chiếc xe mang tên Ngô đình Khôi cán bừa lên cả người đồng bào. Vài tiếng thét ghê rợn. Mặc kệ, họ cứ tiến vào đám quần chúng. Giữa lúc ấy, 3 tiếng súng lục chát chúa khô khan vang lên, và lựu đạn cay tung ra tứ phía. Từng loạt súng liên thanh và một tiếng nổ kinh hồn rung chuyển cả đài phát thanh. Tiếng súng vẫn nổ. Trong đài, chúng tôi vào ẩn trong trong phòng hoà âm gồm các Thượng Tọa, Đại Đức, ông Tỉnh trưởng và một số chúng tôi.” (Trích trên web Giao Điểm, Giao Điểm trích từ tạp chí Liên Hoa, số ra ngày 15 tháng 1965, Sàigòn.)

Nhận xét: Cứ như ông viết, lúc xảy ra có tiếng nổ, ông ở trong đài và ẩn trong một phòng hoà âm cùng với các Thượng Tọa, Đại Đức. Vậy bằng cách nào, ông có thể nhìn thấy cảnh xe tăng tiến vào với ba tiếng súng lục nổ. Đặc biệt, ông là một trong những nhân chứng nói đến lựu đạn cay tung ra tứ phía.

Bằng vào lời của nhân chứng, các nạn nhân chết vì ba nguyên nhân: vì xe tăng cán, vì tiếng nổ kinh hồn và đạn đại liên.

b. Chứng từ của Nguyễn Lang (tức Thiền sư Nhất Hạnh), cuốn 3 của Bộ Việt Nam Phật giáo sử luận.

“Thiếu tá Đặng Sỹ, Phó tỉnh trưởng nội an và Tiểu khu trưởng Thừa Thiên, huy động lực lượng thiết giáp Bảo An, đại bác quân cảnh, hiến binh và cảnh sát thành phố tới vây quanh đám quần chúng mà họ gọi là đám biểu tình..

“Thiếu Tá Đặng Sỹ ra lệnh bắn đạn mã tử khiến đám đông náo động. Lựu đạn cay, lựu đạn nổ được tung vào. Đồng thời súng trường và xe thiết giáp chận lại. Khi thiền sư Trí Quang và ông Tỉnh trưởng từ trong đài phát thanh ra tới thì máu đã đổ: 8 người thiệt mạng vì lựu đạn và 4 người bị thương. Xe thiết giáp cán vỡ đầu một thiếu nhi, sọ em nát vụn. Một thiếu nhi khác bị cán mất nửa đầu và một em khác mất hẳn nửa đầu. Xe Hồng Thập tự được gởi tới để mang những người bị thương về bệnh viện.

Nhận xét: Không hiểu tại sao lại đổi chức vị của thày Trí Quang là thiền sư? Đổi như thế nghe thấy lạ tai quá. Quân cảnh không có mang đại bác? Chắc là pháo binh? Một chi tiết khá quan trọng: Thày Trí Quang và ông tỉnh trưởng chỉ ra khỏi đài phát thanh khi máu đã đổ. Chi tiết này phản lại lời tường thuật của chính người trong cuộc là thày Trí Quang ở phần sau. Thày TQ và ông Tỉnh trưởng đứng ở bên ngoài đài và đang phủ dụ đám đông thì xảy ra biến cố. 8 người chết vì lựu đạn, rồi lại chết bị xe thiết giáp cán. Như vậy giả thiết là các em bị bắn chết, rồi xe thiết giáp cán thêm một lần nữa? Một em bị cán mất nửa đầu và một em khác mất hẳn nửa đầu thì có gì khác nhau?

Xin ghi nhận thêm: Nguyễn Lang, trong phần ghi chú XXXV111 của bộ Việt Nam giáo sử luận, tập 3 có cho rằng Bác Sĩ Lê Khắc Quyến bị ép buộc nên phải ký biên bản như trên. Thiền sư Nhất Hạnh cũng là người đứng ra mời một Uỷ ban Liên Hiệp Quốc đến VN điều tra về vụ Phật Giáo.

Về nội dung bản phúc trình của bác sĩ Quyến, người viết cũng thấy mổi người nói mỗi khác. Ra đến tòa án, Bác Sĩ Quyến vẫn giữ lời khai mà nội dung như sau: Không rõ chất nổ, nhưng không phải là do lựu đạn hoặc chất Plastic. Không bằng lòng về nội dung những bản phúc trình này, người viết có liên lạc với hai con trai của Bác sĩ Lê Khắc Quyến, quý anh LKT và LKH. Nhưng cũng không giúp thêm gì trong việc làm sáng tỏ điều này.’’ Rất tiếc, tôi không giúp được nhiều vì do chỉ là những gì được nghe nói, không có bằng chứng cụ thể’’

c. Chứng từ của Bác sĩ Erich Wulff

Phỏng vấn giáo sư Erich Wulff của báo Liên Hoa, số Đặc biệt Phật Đản, ngày 26 tháng 5- 1964. (trích lại trên Giao Điểm). Cuộc phỏng vấn này xảy ra khi bác sĩ người Đức này trở lại thăm Việt Nam.

“Đêm 8-5-1963, tôi và anh Tôn thất Kỳ, sinh viên y khoa của tôi có đến xem cuộc lộn xộn trước đài phát thanh Huế. Khi chúng tôi vừa đến thì điều làm chúng tôi hốt hoảng là một loạt súng chát chúa vang lên. Liền đó, xe thiết giáp kéo đến, tôi thấy rõ ràng có một chiếc xe mang tên “Ngô đình Khôi” có gắn súng 12-7, chĩa nòng súng vào phía dân chúng đang tụ tập nhốn nháo quanh đài phát thanh. Tôi đang bỡ ngỡ thì lại nghe tiếng nổ rất lớn. Rồi nhiều tiếng nổ khác tiếp theo.

Tiếp theo, ông đến nhà xác “Tôi thấy một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp, 7 cái xác chết tan hoang, nhưng còn có thể nhận ra được, kẻ bị văng óc vỡ đầu, kẻ thì thân xác nát bấy, máu thịt đất cát cùng với óc não lẫn lộn be bét, còn một cái xác khác thì hoàn toàn tan nát từng mảnh không sao nhận ra được. Xem xét các xác chết, tôi thấy có ba xác bị bể sọ, quan sát kỹ chắc là do đạn (cỡ súng lớn bắn ). Mà chắc là do súng cỡ lớn trên xe thiết giáp NĐK bắn. Đạn này làm bay cả sọ, văng óc ra ngoài.

Kết luận ông đáp: Vì tôi đã tận mắt chứng kiến cuộc thảm sát ở Đài phát thanh Huế, tôi vô cùng xúc động trước sự đàn áp dã man này nên tự thấy có bổn phận ủng hộ cho cuộc đấu tranh”

Chứng từ thứ hai của Bác sĩ Erich Wulff, giáo sư Đại học Y khoa Huế, từ 1961-1967. bài trích dịch từ cuốn Vietnamesische Lehrejahren, 1972, từ trang 129-142, trích lại trên trang Giao Điểm và cũng trên Khuông Việt, 2003 trong bài Những tháng ngày không quên của Thái Kim Lan. Giữa bài phỏng vấn và bài trích trong sách của ông bác sĩ người Đức có nhiều chi tiết khác nhau lắm.

“Tôi bỗng nghe một người nào đó gọi tên tôi. Đó là Tý, một người học trò của tôi. Tý hỏi tôi muốn đi cùng đến nghe phát thanh lại bài nói chuyện sáng hôm nay của Thích Trí Quang, bài này sẽ được phát đi trong vòng vài phút nữa và sẽ được truyền ra bên ngoài bởi những loa phóng thanh đặt trước cửa đài.

Vài phút sau đó có tiếng ầm ầm của một đoàn xe thiết giáp. Có tất cả 5 xe thiết giáp xuất hiện. Một chiếc tìm cách đi thẳng vào khuôn viên của đài phát thanh. Nó dừng lại chỉ cách Tý và tôi vài bước mà thôi. Và rồi những phát đạn đầu tiên được bắn ra từ nòng súng cà nông của xe thiết giáp, chúng tôi nghe khoảng 10 phát súng nổ kêu vang và khô khan. Tôi có thể nhìn thấy rõ ràng đầu ngọn lửa phát ra từ họng súng của hai chiếc xe án ngự nơi bồn tròn nằm phía đầu cầu Trường Tiền. Sau đó một loạt súng trường bắt đầu nhả đạn. Sau đó, tôi đã gặp Paul Miller, một người Mỹ còn trẻ làm việc trong văn phòng trường đại học. Anh ta kể rằng “họ đã đi qua đây”. Thiếu tá Đặng Sỹ, người cầm đầu đoàn quân đã bảo anh ta phải biến mất đi. Sắp có màn phải giết người, vì ông ta đã nhận được lệnh của cấp trên đến dẹp tan vụ bạo lọan tại đài phát thanh với bất cứ giá nào”.

Sau đó, bác sĩ Wulff được một người y tá dẫn vào cổng sau nhà xác. Tai đây, ông ghi nhận như sau “Không có ánh đèn điện. Dưới ánh sáng yếu ớt của đèn bạch lạp, chúng tôi thấy có 7 thân người đầy máu me được đặt trên ba bàn khám nghiệm bằng đá. Từ chân đến ngực, thân thể họ còn nguyên vẹn. Nhưng năm cái xác, tất cả là trẻ em, thì không còn đầu. Nơi một người phụ nữ thì có những vết đạn bắn vào cánh tay, vai và cổ. Các xe thiết giáp đã bắn nát đầu các em thiếu nhi, có lẽ vào lúc các em leo qua hàng rào của đài phát thanh và nhô đầu ra trước. Nếu như các em khôn ngoan như người lớn, tức là nằm xuống dưới đất lúc súng đạn bắt đầu nổ thì có lẽ các em đã không hề hấn gì.

Khi về đến cư xá giáo sư đại học, tôi vội bước đến phòng của Giáo sư Krainick. Tình cờ lúc đó bà Krainick đang đọc vào máy ghi âm bức thư gia đình hỏi thăm các người con. Trong sự hốt hoảng lúc bà và ông chồng nghe tôi kể lại những biến cố vừa xảy ra, bà đã quên tắt máy. Cuộn băng ghi âm này đã được dùng làm bằng cớ vào tháng 09-năm 1963 trước Ủy Ban Việt Nam của Liên Hiệp Quốc, kèm theo với lời khai danh dự chứng thật nguyên bản của giáo sư Krainick.”

Nhận xét: Có lẽ những chứng từ của giáo sư người Đức được coi như có giá trị khả tín nhất, vì ông là người ngoại quốc. Đối với một số Phật tử thời đó, ông chẳng những là một nhân chứng hàng đầu mà còn l người ân nhân số một của biến cố 1963. Vào ngày 14/4/1964, ông E. Wulff được tiếp đón nồng nhiệt khi trở lại Huế sau ngày đảo chính. Người ta đã dành tất cả cái vinh dự ấy cho ông như một người bạn của Huế. Ông đã được các Thượng Tọa Thích Trí Quang và Hoà Thượng Thích Đôn Hậu đón tiếp với hàng rào người đứng hai bên. Vì vậy, ông mới được mời ra làm nhân chứng vào tháng 9-1963 với cuốn băng ghi kể lại biến cố với ông bà GS Krainick, trước Ủy Ban VN của LHQ. Nhưng thử so sánh hai bài tường thuật của ông xem sao.

• Thứ nhất: Có một sự lầm lẫn, nếu không được giải thích sẽ gây ra hiểu lầm. Có lúc ông nói là Tý có lúc là Tôn Thất Kỳ. Có sự khác biệt đổi tên như thế vì Tôn Thất Kỳ không muốn để lộ tên mình ra nên ông Wolff đã phải gọi tránh ra như thế.

• Thứ hai, ông viết khi vừa đến thì đã nghe một loạt súng, liền sau đó xe thiết giáp kéo tới. Chắc ông viết lầm, phải đợi xe thiết giáp tới rồi mới bắn được?
 
• Thứ ba, ông còn có thể nghe và đếm được có khoảng 10 phát đạn bắn đi. Cái này phải hỏi chuyên viên vũ khí, có thể đếm được đạn đại liên bắn đi không? Có chỗ ông viết: nhìn thấy 5 xe thiết giáp tiến tới rồi nhả đạn. Thật sự trong cái tình thế căng thẳng và có thể đi đến rối loạn, thật khó có thể có những ghi nhận thật chính xác được. Những trắc nghiệm tâm lý đưa ra những hoàn cảnh giả (simulation), rồi yêu cầu được trả lời đã nhìn, nghe, nhớ gì. 90 phần trăm người được trắc nghiệm đã không thể trả lời đúng như sự việc đã xảy ra.

• Thứ tư: Và nếu như lời ông tường thuật ở đoạn không trích ra đây, ông và Tý thấy tuần xa là bắt đầu sợ và rủ nhau nhảy qua hàng rào đài phát thanh, đứng sang bên kia đường để nhìn về phía đài. Khi có tiếng súng nổ thì còn chạy núp vô một đường hẻm gần đấy. Đọc đọan ông mô tả thì như thể ông là một quan sát viên, hay một quan khách, đứng bàng quan và bình tĩnh, đứng gần tuần xa có mấy thước, nghe và đếm được 10 phát đạn, thấy hết hiện trường. Tôi chỉ hỏi thật, ông đứng ở đâu? Tôi có đặt vấn đề về chứng từ của ông Wolff với một người bạn từng quen biết ông Wolff thì người ấy vẫn quả quyết 100% là ông Wolff nói thật, nói chính xác.

• Thứ năm: ông kể được nghe qua một người bạn tên Paul Miller cho biết gặp Đặng Sỹ và Đặng Sỹ cho biết phải biến đi, vì sắp có cảnh dẹp loạn và cảnh giết người. Cứ tin vào chứng từ của ông bác sĩ thì Thiếu Tá Đặng Sỹ đã được lệnh trước chẳng những dẹp lọan mà còn có bổn phận phải tàn sát dân chúng đi biểu tình. Chứng cớ này khá là quan trọng vì có sách lược tàn sát đồng bào Phật Tử tối hôm đó? Ông Wolff phải ra làm chứng về điều này và xác nhận lại một lần nữa câu nói của ông. Nếu ông xác nhận Đặng Sỹ có nói như thế thì thì vụ án Đặng Sỹ rất đơn giản vì có lời giải đáp. Rất tiếc, ông đã rời VN sớm hơn một tháng trước khi vụ án Đặng Sỹ được đem ra xét xử.

• Thứ sáu: theo ông các trẻ em bị thảm sát vì vượt hàng rào đài phát thanh cao khoảng 1m50. Như vậy, thay vì bị chết ở sát cạnh đài phát thanh thì nay chết ở hàng rào đài phát thanh. Đây là một vấn đề cần đặc biệt lưu ý. Chứng cớ này của ông không đứng vững được vì vi phạm luật hiện trường. Một điều vẫn ám ảnh tôi mãi. Tại sao nạn nhân chỉ là trẻ con và thanh thiếu niên? Nếu đạn đại liên bắn như thế thì chẳng những các em chết và người lớn cũng chết không miễn trừ?

• Thứ bảy: ông là người thứ nhất, trước cả bác sĩ Lê Khắc Quyến có đặc quyền được giảo nghiệm xác chết. Tôi có đem truyện này hỏi các bác sĩ thì họ cho rằng nếu không phải bác sĩ chuyên môn về giảo nghiệm tử thi ( médecin légiste) thì không đủ tư cách để có thể xem xét và quyết đoán về các vết thương. Họ không thể nào xác định được một vết thương do đạn, hay do chất nổ? Về điểm này có thể nói rằng cho dù có chứng tử giảo nghiệm đi nữa, không bị cưỡng buộc đi nữa, chừng từ đó cũng khó có sự giảo nghiệm kỹ càng và chính xác. Một bác sĩ thường, không chuyên ngành, không có cách gì phân biệt được một vế thương do chất nổ lựu đạn hay plastic, hay do đầu đạn vv.. Thật không dễ đâu? Dầu vậy thì đây là một bằng chứng vô cùng quan trọng, bởi vì trong nhiều trường hợp, nhân chứng duy nhất có thể truy lùng ra tội phạm lại chính là xác chết. Xác chết biết nói, biết tố cáo. Mặc dù ông không phải bác sĩ chuyên khoa về giảo nghiệm xác chết, mặc dù dưới ánh nến lù mù không soi sáng đủ và mặc dù thời gian chắc cũng không cho phép ông ở lâu để giảo nghiệm, đo đạc các vết thương sâu hay rộng để biết đích xác vết thương do chất nổ gì gây ra. Ông đã khẳng định là: quan sát kỹ, ông cho rằng chắc là do đạn đại liên bắn ra làm bay cả sọ và văng óc ra ngoài. Ông còn ghi thêm là do chiếc xe có bảng hiệu Ngô Đình Khôi bắn ra nữa. Có lúc ông nói có 5 xác bị bắn nát đầu văng óc, nhưng từ chân đến đầu còn nguyên vẹn. Đọan sau, ông nói ngược lại là 7 xác chết tan hoang, nát bấy, hoàn toàn nát bấy. Còn nguyên vẹn và nát bấy đã hẳn phải khác nhau? 5 xác và 7 xác đã hẳn cũng khác nhau? Quý vị không tin cứ việc đọc lại. Không thể giảo nghiệm khơi khơi thế được? Chắc ông chưa từng được xem Bao Công xử án.

Kết luận: các nạn nhân chết là do đạn đại liên từ xe thiết giáp Ngô Đình Khôi bắn ra.

Hai bản văn mà nội dung do một nhân chứng viết lại có nhiều chỗ phản lại nhau từng chi tiết một, không có chi tiết nào trong hai bản văn giống nhau đến độ có cảm tưởng do hai nhân chứng viết lại chứ không phải một người.

(Còn tiếp)

Copyright © 2006 DCVOnline

Kỷ niệm 40 năm Mậu Thân: sân khấu của những oan hồn

Đăng bởi Quản trị on Tháng Hai 7, 2008
Blog Chứng Nhân Lịch Sử

Trong sự dè dặt và bộc lộ cả sự ngại ngùng của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kỷ niệm 40 năm cái gọi là chiến thắng Mậu Thân 1968. Điều này có thể thấy rõ trên các băng-rôn khẩu hiệu hay các bản tin thời sự của hệ thống truyền thông nô dịch thuộc Nhà nước.
Thậm chí vào ngày 1.2.2008, cuộc duyệt binh và loạt chương trình kỷ niệm 40 năm Mậu Thân cũng được tổ chức vội vàng trong khuôn viên Dinh độc lập, Saigon với hơn 8000 người, chủ yếu là các cán binh và bộ đội. Các lãnh đạo cấp cao nhất người Miền Nam là Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Minh Triết đã không có mặt trong lễ hội này mà chỉ có Nông Đức Mạnh và tay sai phe Cộng sản miền Bắc là Lê Thanh Hải lên đọc diễn văn. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu là Dũng và Triết không muốn chuốc họa vào thân trước sự căm hờn của hàng triệu người dân miền Nam đã từng chứng kiến cuộc thảm sát này và nuôi căm hờn trong suốt 40 năm qua.
Cuộc chiến của 40 năm trước, khi những người Cộng sản miền Bắc bội ước, tấn công vào dân thường và thảm sát đồng bào của mình trên 40 tỉnh lỵ, thành phố miền Nam, đã là một vết nhơ không bao giờ rửa sạch. Cho dù ngày hôm nay Dũng có đứng trên bục của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hay Triết có mỉm cười kêu gọi tình đồng bào khắp năm châu, ai cũng có thể thấy thấp thoáng trong chiếc khăn tay đỏm dáng mà họ dắt trên túi áo, mùi tanh của xác hàng ngàn người bị chôn sống hay bị bắn vào lưng với đôi bàn tay bị đâm xuyên và nối hàng dài với nhau bằng dây kẽm.
Ngày mồng một Tết, lẽ ra là ngày chờ đón năm mới với sự bình an. Nhưng từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, lời khấn nguyện của hàng triệu người cho một năm mới đến, còn là lời cầu siêu cho những linh hồn đã bị cộng sản thảm sát trong ngày linh thiêng nhất của dân tộc. Đặc biệt với Huế, hãy thử nghĩ xem sẽ có bao nhiêu oan hồn có thể siêu thoát suốt 40 năm nay?
Và chắc chắn, xin đừng quên những kẻ chỉ điểm và chịu một phần trách nhiệm cho món nợ lịch sử này, đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân, những kẻ tôi tớ của Đảng, đã không còn nhân tính. Bản án vẫn treo lơ lửng và chờ họ, một ngày. ( http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=AJTiSJhFe4Ifap8RXEvayg%3d%3d )

Cộng sản Bắc Việt thắng lợi chăng? Lịch sử ghi rõ rằng hàng trăm ngàn quân bị đánh bật ra khỏi toàn bộ miền Nam, đẩy lùi tận vĩ tuyến 17, số chết hơn 45.000 quân chính quy và mất gần 2 năm sau mới gượng tái lập được các hệ thống tình báo, nằm vùng trong miền Nam. Một thống kê khác, được chính Đảng Cộng sản vô tình tiết lộ trên đài truyền hình VTV, trong một cuộc phỏng vấn với đại tá – nhà văn Chu Lai cho thấy tổng số thiệt hại quân lực của Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng Miền Nam có thể lên tới 90.000 quân. Nhưng những dữ kiện đó, các nhà lãnh đạo miền Bắc không bao giờ dám nhắc tới. Hèn hạ không dám nhắc tới.
Đã từng có nhận xét rằng trong những cuộc chiến với người Cộng sản, mọi đối thủ đều không thể cạnh tranh với họ về số người chết. Để đạt được mục đích, Cộng sản không hề thương tiếc sinh mạng của binh lính, càng không cần phải thương tiếc mạng sống của thường dân. Hàng đoàn xe GMC chở xác lính Bắc Việt rời khỏi đô thành Sài Gòn năm 1968 và những nấm mộ tập thể được khai quật sau đó tại Huế chính là tiếng thét uất hận của những linh hồn người Việt trong suốt 40 năm qua, trở thành tiếng gầm gừ trong cổ họng người còn sống.
Thói nói láo và bản chất vô ơn với chính những người hy sinh cho cuộc chiến của mình đã khiến nhà nước Cộng sản Việt Nam chỉ thuần ca ngợi, thậm chí bỏ qua cả chi tiết ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản (trong thời gian đó đang bị Lê Đức Thọ tiếm quyền) đã ngã bệnh khi nghe tin cuộc thất bại đầy máu này, dẫn đến cái chết vì suy sụp vào ngày 2.9.1969, tức một năm sau đó.
Huế đã trờ thành một ký ức lịch sử của toàn thế giới về tội ác của Cộng sản Việt Nam. Chỉ trong vài ngày chiếm đóng Huế, Cộng sản Bắc Việt đã giết chết gần 3000 dân thường và nhân viên hành chính quốc gia miền Nam. Trong bài viết của mình trên tờ Ottawa Citizen (*), ngày 3.2.2008, (http://www.canada.com/ottawacitizen/news/business/story.html?id=2dff9de0-a123-4f6f-818d-16d3ea347a6b ) ký giả David Warren đã nói rằng câu chuyện của Huế năm 1968 là một “Hội chứng Việt Nam” dành cho những ai còn nghi ngờ về tâm địa dã thú của Chủ nghĩa Cộng sản. Trong bài viết với ký ức đầy những oan hồn, kể cả những người ngoại quốc, David Warren đã kể lại rằng: “Sáu tuần lễ sau đó, thi thể của các bác sĩ Alois Altekoester, Raimund Discher, Horst-Guenther Krainick, và bà vợ của bác sĩ Krainick là Elisabeth, đã được tìm thấy tại các nấm mồ lộ thiên mà họ đã bị buộc phải tự đào lấy cho chính mình”.
“Rồi thì nhiều ngôi mộ tập thể khổng lồ của phụ nữ và trẻ em được tìm thấy. Hầu hết đều bị đập vỡ đầu cho đến chết, một số thì bị chôn sống; quý vị có thể nhận biết điều này từ các bàn tay được cắt, đánh bóng và sơn móng thật đẹp đẽ của các phụ nữ cố gắng cào bới để chui ra khỏi các nơi họ bị chôn sống”.
Năm 2008, kỷ niệm 40 năm thảm sát Mậu Thân. Chính các nhà lãnh đạo Cộng sản khi nâng ly chúc mừng thời chiếm đóng và cai trị của mình, cũng nên tự hỏi rằng có bao nhiều người sẽ cầm đá ném vào mình từ nỗi uất hận Mậu thân 1968, nếu chính quyền của họ sụp đổ? Chắc chắn sẽ không ít. Sân khấu của cuộc kỷ niệm 40 năm tội ác bị che giấu đã mở màn, hàng ngàn những oan hồn đang yên lặng nhìn và chờ đợi ngày mà những người lãnh đạo Cộng sản Việt nam bước tới.

THÙY TRÂM
CHỨNG NHÂN LỊCH SỬ

Nguyễn Văn Lục

No comments:

There was an error in this gadget